Wednesday, June 1, 2011
Thursday, April 7, 2011
Xem Phim Bão Cát.Một bộ phim đoạt 29 giải thưởng liên hoan phim quốc tế
CLICK vao XEM PHIM BAO CAT duoi day to start viewing
XEM PHIM BAO CAT
XEM PHIM BAO CAT
Saturday, March 26, 2011
Tiên Đoán Ngày Tận Thế
Trần Cao Tường: Chúa Nhật5A, Tiên Đoán Ngày Tận Thế
By HoangHac • Mar 25th, 2011 • Category: Công Giáo

(Ảnh Trần Cao Tường)
Hơn lúc nào hết, vào thời điểm này người ta nhắc tới lời tiên tri của một linh mục tên là Malachi từ thế kỷ 12 về “thời sau hết”. Theo đó thì Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II là “Mặt Trời Lam Lũ” (Labor Solis). Đức Gioan 23 đến từ Venise thành phố nổi trên nước ở Bắc Ý thì được gọi là “Thủy Thủ” (Nauta). Sau Đức Gioan Phaolô II thì còn một vị giáo chủ nữa trước vị cuối cùng trong sổ là Đức Phêrô II. Thánh Phêrô là vị giáo chủ đầu tiên, nên khi thấy tên Đức Phêrô II là vị cuối cùng trong sổ mà không thấy nói gì thêm nữa, người ta liền suy đoán đó là mốc ghi ngày tận thế!
THỜI ĐIỂM VỀ LỜI TIÊN TRI MẶT TRỜI LAM LŨ
Hình ảnh “Mặt Trời Lam Lũ” trông thấy rõ nét nơi Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II trong chuyến viếng thăm Mỹ Châu ở Mexico và St Louis Hoa Kỳ vào cuối tháng 1 năm 1999. Dù tinh thần rất minh mẫn, nhưng cơ thể vị giáo chủ đã yếu hẳn sau lần bị bắn tại công trường thánh Phêrô và lần mổ mới đây, nhất là chứng bệnh Parkinson đã ảnh hưởng rất rõ. Tay Ngài bị run, khuôn mặt bị cứng ra dần, và đi lại rất chậm chạp. Đó là vì sau hơn 20 năm lam lũ như mặt trời trong sứ vụ, đặc biệt với trên 80 chuyến công du đi đến trên 120 nước trên thế giới.
Ngày 16 tháng 10 năm 1978, cả thế giới ngạc nhiên khi thấy xuất hiện vị tân giáo chủ rất trẻ trung mới 57 tuổi đến từ một nước Cộng Sản Đông Âu. Cả 455 năm qua, các đức giáo chủ đều là người Ý, đây là lần đầu tiên như một dấu lạ: Đức Karol Wojtyla đến từ Ba Lan, một nước chính quyền Cộng Sản. Ngài rất khỏe mạnh và lanh lẹ vì từng là một nhà thể thao.
Lạ lùng quá, trong vòng hơn 20 năm, “Mặt Trời Lam Lũ” đã thay đổi cả bộ mặt thế giới. Và bây giờ trong lúc tuổi già, ngài vẫn tiếp tục lên đường đi tới, lôi kéo mọi người hướng về tương lai bước vào thiên niên mới với đầy nhiệt lực hứng khởi, và với cả một kế hoạch thực tiễn chứ không ngồi viễn mơ.
Dịp kỷ niệm 20 năm làm giáo chủ vào tháng 10 năm 1998, Đức Gioan Phaolô II đã có một kiểu mừng khác biệt, không nhắc lại những thành tích 20 năm qua, nhưng mở ra một nhãn quan tích cực cho ngàn năm mới với tông huấn “Vẻ Huy Hoàng của Chân Lý” (Veritatis Splendor). Đây là tông huấn then chốt ý hướng của vị giáo chủ, đưa ra một đường lối dung hạp đời với đạo, văn hóa với niềm tin, đời thường với thánh thiêng. Đó cũng là ý hướng của công đồng Vatican II trong hiến chế Hội Thánh trong Thế Giới ngày nay:
“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ…Lúc nào Hội Thánh cũng có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và chụp ghi dưới ánh sáng Tin Vui” (số 1&4).
TIN VUI KHƠI MẠCH MÙA XUÂN MỚI
Phát ngôn viên của tòa thánh là Navarro-Valls đã nhận xét: “Sức khỏe của ngài xuống hơn, nhưng cảm ơn Chúa, điều đó chẳng cản trở công việc của ngài. Tay bị run, phát âm đôi khi không rõ, nhưng đây có khi lại giúp ngài nói được với dân chúng hùng hồn hơn ở chiều kích mới. Cảm tưởng của tôi là khi người ta nhìn thấy tay ngài rung, thì mọi thành quách bên trong họ bị sụp xuống hết. Cánh tay rung này có thể cũng có tác dụng mạnh như thân hình cường tráng của ngài cách đây 20 năm”.
Điều này thật đúng khi giới trẻ ùn ùn kéo tới với ngài trong dịp tụ hội lớn của giới trẻ châu Mỹ tại Mexico cũng như tại St Louis Hoa Kỳ, và đặc biệt tại đại hội giới trẻ thế giới ở Paris vào năm 1997. Trước đó ít lâu, một nhà báo vô thần Pháp đã nhận xét về bầu khí xuống dốc của người Công Giáo ở Pháp, và đoan chắc rằng đại hội sẽ rất ít người; và với con số may ra được khoảng một trăm ngàn người đến dự thì bõ bèn gì để một vị giáo chủ già nua phải lần mò sang Paris cho tốn công sức! Nhưng rồi chuyện kinh ngạc đã xẩy ra: trên một triệu người trẻ đã tuốn đến thành phố Paris để gặp gỡ Đức Thánh Cha. Họ khao khát nội tâm sâu xa, muốn tìm một hướng đi sau những mệt mỏi rã rời của những năm cuối cùng của bách niên nhầy nhụa vật chất này.
Đức Gioan Phaolô đã vạch ra lộ trình rất rõ để nhân loại bước vào ngàn năm mới: “Phục hồi tầm quan trọng của gia đình. Quốc gia chỉ yên ổn khi gia đình lành mạnh. Giới trẻ đừng sa vào lại những lầm lỡ của thế kỷ đang qua, nhưng hãy vững tâm theo một con đường sống mới hợp nhân vị và nhân phẩm, phát huy giá trị Phúc Âm”. “Không có hòa bình nếu không có công lý. Nhưng không thể có công lý nếu không bênh vực sự sống. Và không có sự sống nếu không đặt nền trên chân lý, mà chân lý thì do Thiên Chúa chỉ cho”. Chứ những thước đo sự thật và giá trị loài người bày đặt mà gạt bàn tay Chúa ra trong cả thế kỷ qua đã chỉ đưa đến đổ vỡ tan hoang. Ngài kêu gọi giới trẻ hãy luyện đức tin như hai người trẻ Công Giáo tập luyện và đạt tới thần tượng của môn dã cầu là Mark McGwire và Sammy Sosa. Và ngài xác quyết bằng chính Lời Chúa: “Chúng con là ánh sáng soi trần thế” (Mt 5:14)
Chính Chúa mới là Nguồn Sáng. Trong cảnh đen tối ngột ngạt, chỉ cần một nút bật là tất cả sáng lên. Mỗi người hãy là nút bật đó. Trong lúc phẩm chất con người xuống cấp tới cùng độ, một nhãn quan mới đầy ánh sáng cần được mở ra. Như vậy, Đức Gioan Phaolô II đang tuyên bố “ngày tận thế” của một nền văn hóa chết chóc u ám, của một thời đại đánh mất hồn nên rời rã tàn lụi, của một thế kỷ với bao lầm lỡ, để khai mở một mùa xuân đầy sinh lực của một kỷ nguyên mới với một nền văn minh mới đặt nền trên niềm tin vào tình người và sức mạnh tâm linh hơn là những giá trị vật chất. Đây quả là điều mà ai cũng đang cảm thấy khẩn thiết vào thời điểm này.
Cũng chính vì thế mà dù đã cao tuổi và bị bệnh Parkinson, Đức Gioan Phaolô vẫn cứ hăng hái lam lũ ra đi hô hào thế giới và đặc biệt giới trẻ vùng đứng dậy. Ngài đã chuyển lực khơi mào một mùa xuân mới từ những tàn tạ mùa đông. Sức gì đã tác động mãnh liệt như vậy? Đó là dòng ơn thánh. Để khơi mạch mùa xuân mới, con người chỉ cần tin tưởng vào thần lực Chúa, đặt lại cái gì thực sự ưu tiên trong đời sống và sẵn sàng làm nút bật cho Chúa tác động, như Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II. Vừa tuổi già vừa bệnh tật mà ngài vẫn có thể làm được như thế, vậy mà những người mạnh khỏe trẻ trung lại chỉ biết ngồi than trách hay đầu hàng môi trường sao?
PHÚT CẢM NHẬN XUÂN RA ĐỜI
Vào lúc sang xuân, mùa xuân không phải của một năm, mà là thời điểm cựa mình sang xuân của một thế kỷ mới, một thiên kỷ mới, con người ngắc ngoải đi tìm con đường nào có thể làm tươi tắn lại cuộc sống. Chả lẽ mọi vật đều chuyển mình vào dòng sinh lực đất trời mà tươi nở, riêng con người vẫn cứ ghì lại tự nhốt giam vào vật chất tù túng khiến trở nên héo rũ tàn tạ mãi sao?!
Đây chính là thời điểm người trẻ mệt mỏi chán chường cần tìm ra phương cách lấy lại sinh khí cuộc sống. Một con én cũng như một bông hoa không làm nên mùa xuân. Nhưng một con én bắt đầu lượn, một bông hoa bắt đầu đầu nở, thì mùa xuân cũng bắt đầu, như một người tuổi già và bệnh tật như Đức Thánh Cha đã bắt đầu. Mỗi người phải là một nút bật sáng, khơi mạch mùa xuân. Và đây là điều tích cực nhất chuẩn bị cho năm 2000.
Dù bất cứ trạng huống nào kể cả cảnh bi đát như của Hàn Mặc Tử, Thần Sinh Khí Chúa ra đời hiển hiện thành dòng lực sống mùa xuân, có sức thay đổi tất cả. Cả bốn mùa đều là “tứ thời xuân, tứ thời xuân non nước”: từ kẽ đá, từ bờ đất hoang, từ những cành cây trơ trụi, từ những sần sượng tàn lụi tinh thần, tất cả đều bật lên muôn hoa lá.
Ôi, cao sang khôn ví trọng ai bì.
Trên nước cả có vô vàn châu báu
Trí rất ngớp bởi chưng xuân hồn hậu
Đã ra đời theo lệnh của Ngôi Hai…
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác,
Rất phương phi, trên hết cả anh hoa.
Xuân ra đời.
(Hàn Mặc Tử, Ra Đời)
By HoangHac • Mar 25th, 2011 • Category: Công Giáo

(Ảnh Trần Cao Tường)
Hơn lúc nào hết, vào thời điểm này người ta nhắc tới lời tiên tri của một linh mục tên là Malachi từ thế kỷ 12 về “thời sau hết”. Theo đó thì Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II là “Mặt Trời Lam Lũ” (Labor Solis). Đức Gioan 23 đến từ Venise thành phố nổi trên nước ở Bắc Ý thì được gọi là “Thủy Thủ” (Nauta). Sau Đức Gioan Phaolô II thì còn một vị giáo chủ nữa trước vị cuối cùng trong sổ là Đức Phêrô II. Thánh Phêrô là vị giáo chủ đầu tiên, nên khi thấy tên Đức Phêrô II là vị cuối cùng trong sổ mà không thấy nói gì thêm nữa, người ta liền suy đoán đó là mốc ghi ngày tận thế!
THỜI ĐIỂM VỀ LỜI TIÊN TRI MẶT TRỜI LAM LŨ
Hình ảnh “Mặt Trời Lam Lũ” trông thấy rõ nét nơi Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II trong chuyến viếng thăm Mỹ Châu ở Mexico và St Louis Hoa Kỳ vào cuối tháng 1 năm 1999. Dù tinh thần rất minh mẫn, nhưng cơ thể vị giáo chủ đã yếu hẳn sau lần bị bắn tại công trường thánh Phêrô và lần mổ mới đây, nhất là chứng bệnh Parkinson đã ảnh hưởng rất rõ. Tay Ngài bị run, khuôn mặt bị cứng ra dần, và đi lại rất chậm chạp. Đó là vì sau hơn 20 năm lam lũ như mặt trời trong sứ vụ, đặc biệt với trên 80 chuyến công du đi đến trên 120 nước trên thế giới.
Ngày 16 tháng 10 năm 1978, cả thế giới ngạc nhiên khi thấy xuất hiện vị tân giáo chủ rất trẻ trung mới 57 tuổi đến từ một nước Cộng Sản Đông Âu. Cả 455 năm qua, các đức giáo chủ đều là người Ý, đây là lần đầu tiên như một dấu lạ: Đức Karol Wojtyla đến từ Ba Lan, một nước chính quyền Cộng Sản. Ngài rất khỏe mạnh và lanh lẹ vì từng là một nhà thể thao.
Lạ lùng quá, trong vòng hơn 20 năm, “Mặt Trời Lam Lũ” đã thay đổi cả bộ mặt thế giới. Và bây giờ trong lúc tuổi già, ngài vẫn tiếp tục lên đường đi tới, lôi kéo mọi người hướng về tương lai bước vào thiên niên mới với đầy nhiệt lực hứng khởi, và với cả một kế hoạch thực tiễn chứ không ngồi viễn mơ.
Dịp kỷ niệm 20 năm làm giáo chủ vào tháng 10 năm 1998, Đức Gioan Phaolô II đã có một kiểu mừng khác biệt, không nhắc lại những thành tích 20 năm qua, nhưng mở ra một nhãn quan tích cực cho ngàn năm mới với tông huấn “Vẻ Huy Hoàng của Chân Lý” (Veritatis Splendor). Đây là tông huấn then chốt ý hướng của vị giáo chủ, đưa ra một đường lối dung hạp đời với đạo, văn hóa với niềm tin, đời thường với thánh thiêng. Đó cũng là ý hướng của công đồng Vatican II trong hiến chế Hội Thánh trong Thế Giới ngày nay:
“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ…Lúc nào Hội Thánh cũng có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và chụp ghi dưới ánh sáng Tin Vui” (số 1&4).
TIN VUI KHƠI MẠCH MÙA XUÂN MỚI
Phát ngôn viên của tòa thánh là Navarro-Valls đã nhận xét: “Sức khỏe của ngài xuống hơn, nhưng cảm ơn Chúa, điều đó chẳng cản trở công việc của ngài. Tay bị run, phát âm đôi khi không rõ, nhưng đây có khi lại giúp ngài nói được với dân chúng hùng hồn hơn ở chiều kích mới. Cảm tưởng của tôi là khi người ta nhìn thấy tay ngài rung, thì mọi thành quách bên trong họ bị sụp xuống hết. Cánh tay rung này có thể cũng có tác dụng mạnh như thân hình cường tráng của ngài cách đây 20 năm”.
Điều này thật đúng khi giới trẻ ùn ùn kéo tới với ngài trong dịp tụ hội lớn của giới trẻ châu Mỹ tại Mexico cũng như tại St Louis Hoa Kỳ, và đặc biệt tại đại hội giới trẻ thế giới ở Paris vào năm 1997. Trước đó ít lâu, một nhà báo vô thần Pháp đã nhận xét về bầu khí xuống dốc của người Công Giáo ở Pháp, và đoan chắc rằng đại hội sẽ rất ít người; và với con số may ra được khoảng một trăm ngàn người đến dự thì bõ bèn gì để một vị giáo chủ già nua phải lần mò sang Paris cho tốn công sức! Nhưng rồi chuyện kinh ngạc đã xẩy ra: trên một triệu người trẻ đã tuốn đến thành phố Paris để gặp gỡ Đức Thánh Cha. Họ khao khát nội tâm sâu xa, muốn tìm một hướng đi sau những mệt mỏi rã rời của những năm cuối cùng của bách niên nhầy nhụa vật chất này.
Đức Gioan Phaolô đã vạch ra lộ trình rất rõ để nhân loại bước vào ngàn năm mới: “Phục hồi tầm quan trọng của gia đình. Quốc gia chỉ yên ổn khi gia đình lành mạnh. Giới trẻ đừng sa vào lại những lầm lỡ của thế kỷ đang qua, nhưng hãy vững tâm theo một con đường sống mới hợp nhân vị và nhân phẩm, phát huy giá trị Phúc Âm”. “Không có hòa bình nếu không có công lý. Nhưng không thể có công lý nếu không bênh vực sự sống. Và không có sự sống nếu không đặt nền trên chân lý, mà chân lý thì do Thiên Chúa chỉ cho”. Chứ những thước đo sự thật và giá trị loài người bày đặt mà gạt bàn tay Chúa ra trong cả thế kỷ qua đã chỉ đưa đến đổ vỡ tan hoang. Ngài kêu gọi giới trẻ hãy luyện đức tin như hai người trẻ Công Giáo tập luyện và đạt tới thần tượng của môn dã cầu là Mark McGwire và Sammy Sosa. Và ngài xác quyết bằng chính Lời Chúa: “Chúng con là ánh sáng soi trần thế” (Mt 5:14)
Chính Chúa mới là Nguồn Sáng. Trong cảnh đen tối ngột ngạt, chỉ cần một nút bật là tất cả sáng lên. Mỗi người hãy là nút bật đó. Trong lúc phẩm chất con người xuống cấp tới cùng độ, một nhãn quan mới đầy ánh sáng cần được mở ra. Như vậy, Đức Gioan Phaolô II đang tuyên bố “ngày tận thế” của một nền văn hóa chết chóc u ám, của một thời đại đánh mất hồn nên rời rã tàn lụi, của một thế kỷ với bao lầm lỡ, để khai mở một mùa xuân đầy sinh lực của một kỷ nguyên mới với một nền văn minh mới đặt nền trên niềm tin vào tình người và sức mạnh tâm linh hơn là những giá trị vật chất. Đây quả là điều mà ai cũng đang cảm thấy khẩn thiết vào thời điểm này.
Cũng chính vì thế mà dù đã cao tuổi và bị bệnh Parkinson, Đức Gioan Phaolô vẫn cứ hăng hái lam lũ ra đi hô hào thế giới và đặc biệt giới trẻ vùng đứng dậy. Ngài đã chuyển lực khơi mào một mùa xuân mới từ những tàn tạ mùa đông. Sức gì đã tác động mãnh liệt như vậy? Đó là dòng ơn thánh. Để khơi mạch mùa xuân mới, con người chỉ cần tin tưởng vào thần lực Chúa, đặt lại cái gì thực sự ưu tiên trong đời sống và sẵn sàng làm nút bật cho Chúa tác động, như Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II. Vừa tuổi già vừa bệnh tật mà ngài vẫn có thể làm được như thế, vậy mà những người mạnh khỏe trẻ trung lại chỉ biết ngồi than trách hay đầu hàng môi trường sao?
PHÚT CẢM NHẬN XUÂN RA ĐỜI
Vào lúc sang xuân, mùa xuân không phải của một năm, mà là thời điểm cựa mình sang xuân của một thế kỷ mới, một thiên kỷ mới, con người ngắc ngoải đi tìm con đường nào có thể làm tươi tắn lại cuộc sống. Chả lẽ mọi vật đều chuyển mình vào dòng sinh lực đất trời mà tươi nở, riêng con người vẫn cứ ghì lại tự nhốt giam vào vật chất tù túng khiến trở nên héo rũ tàn tạ mãi sao?!
Đây chính là thời điểm người trẻ mệt mỏi chán chường cần tìm ra phương cách lấy lại sinh khí cuộc sống. Một con én cũng như một bông hoa không làm nên mùa xuân. Nhưng một con én bắt đầu lượn, một bông hoa bắt đầu đầu nở, thì mùa xuân cũng bắt đầu, như một người tuổi già và bệnh tật như Đức Thánh Cha đã bắt đầu. Mỗi người phải là một nút bật sáng, khơi mạch mùa xuân. Và đây là điều tích cực nhất chuẩn bị cho năm 2000.
Dù bất cứ trạng huống nào kể cả cảnh bi đát như của Hàn Mặc Tử, Thần Sinh Khí Chúa ra đời hiển hiện thành dòng lực sống mùa xuân, có sức thay đổi tất cả. Cả bốn mùa đều là “tứ thời xuân, tứ thời xuân non nước”: từ kẽ đá, từ bờ đất hoang, từ những cành cây trơ trụi, từ những sần sượng tàn lụi tinh thần, tất cả đều bật lên muôn hoa lá.
Ôi, cao sang khôn ví trọng ai bì.
Trên nước cả có vô vàn châu báu
Trí rất ngớp bởi chưng xuân hồn hậu
Đã ra đời theo lệnh của Ngôi Hai…
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác,
Rất phương phi, trên hết cả anh hoa.
Xuân ra đời.
(Hàn Mặc Tử, Ra Đời)
NHỮNG NĂM MÃO TRONG LỊCH SỬ
NHỮNG NĂM MÃO TRONG LỊCH SỬ

Nguyễn Lý Tưởng
Mười hai năm trước đây, khi qua được cái năm Mậu Dần (1998), một số người cảm thấy nhẹ nhõm vì qua được ba năm “Tý hư, Sửu hao, Dần bất lợi” để bước vào năm Kỷ Mão (1999) với nhiều hy vọng. Ba năm đó, nếu không thua thiệt mặt nầy thì cũng mất mát mặt khác; không đau ốm, tai nạn thì cũng mất mùa, dịch tễ, chiến tranh… Nhưng năm Kỷ Mão (1999) lại là năm chuẩn bị bước vào năm hai ngàn. Đã từ nhiều đời nay, người ta vẫn nói năm 2000 là năm tận thế… Một số người giải thích sấm ký và kêu gọi mọi người ăn năn, hối cải, sống cuộc đời đạo đức để khỏi bị phạt nơi hỏa ngục! Nếu không tận thế thì nhân loại cũng sẽ gặp đại họa tiêu diệt gần hết, và số người còn sống sót sẽ rất ít để lập lại một thế giới mới, tốt đẹp hơn, đạo đức hơn. Mới bước vào ngàn năm thứ ba, chưa hết lo âu lại gặp các năm Tý (Mậu Tý: 2008), Sửu (Kỷ Sửu: 2009) và Dần (Canh Dần: 2010)… Một lần nữa, thiên hạ lại lo âu.
Ba năm vừa qua cũng là ba năm đầy các biến cố xảy ra trên tồn thế giới và ngay cả trên đất Hoa Kỳ nầy. Ba năm suy thoái trầm trọng về kinh tế, ba năm thiên tai, bão lụt, động đất, sóng thần, chiến tranh,v.v… Hàng trăm ngàn người chết trong một lúc. Mấy năm gần đây, bên Việt Nam và ở hải ngoại có nhiều nhóm tôn giáo đưa ra những lời tiên đoán sẽ có những biến cố lớn xảy ra cho Việt Nam và thế giới vào hai năm 2011 và 2012 như: sự tàn phá, chết chóc do chiến tranh hoặc thiên tai… sẽ có những thay đổi quan trọng, thế giới hiện nay sẽ bị hủy diệt để nhường chỗ cho một thế giới mới tốt đẹp hơn… Do đó, mối âu lo vẫn còn canh cánh bên lòng.
Năm Tân Mão sắp đến (2011) tương lai Việt Nam và nhân loại sẽ như thế nào?
Nhìn lại lịch sử nước nhà, những năm MÃO trong quá khứ, đã có những biến cố gì.
- Năm Quý Mão (258 trước Công Nguyên) là năm cuối cùng chấm dứt triều đại các vua Hùng của Việt Nam theo truyền thuyết. Đó là năm Thục Phán lập ra nước Âu Lạc và về sau giang sơn của Thục Phán đã bị Triệu Đà thôn tính để lập ra nước Nam Việt.
- Năm Tân Mão (31 thế kỷ thứ I) đời Quang Vũ nhà Hán bên Trung Quốc, sau khi diệt được Vương Mãng, củng cố được chính quyền rồi, thì các lãnh tụ ở đất cũ của Triệu Đà (Giao Chỉ) đã lần lượt theo về với vua nhà Hán và cho sứ đến triều cống.
- Năm Quý Mão (43), Trưng Trắc bị tướng nhà Hán là Mã Viện đánh bại, đất Giao Chỉ lại lệ thuộc nhà Hán như cũ. Người đời sau lấy ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão nầy làm ngày giổ Trưng Trắc, Trưng Nhị.
- Năm Tân Mão (571) Lý Phật Tử đem quân chống nhau với Triệu Quang Phục để tranh quyền. Nguyên vào năm 554, Lý Bôn (hay Lý Bí) tức Lý Nam Đế nổi lên chống lại nhà Lương (502-556) để giành độc lập, thua trận, ông trao binh quyền cho Triệu Quang Phục chỉ huy để chống lại với nhà Lương. Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương (khác với Nam Việt Vương là Triệu Đà thời xưa). Năm 558, Lý Nam Đế mất, anh họ của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo cùng với người trong họ là Lý Phật Tử đem quân chiếm một vùng và năm Quý Mão (571) Lý Phật Tử chống lại Triệu Quang Phục để tranh quyền. Triệu Quang Phục đem con gái gả cho Lý Phật Tử để cầu hòa, nhưng Lý Phật Tử vẫn có lòng phản trắc, đem quân đánh Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục thua, Lý Phật Tử xưng vương. Bên Trung Quốc nhà Tùy diệt được nhà Lương, thống nhất thiên hạ, sai tướng là Lưu Phương đem quân chinh phục miền Nam. Lý Phật Tử về hàng nhà Tùy, nước ta lại lệ thuộc phương Bắc như cũ.
- Năm Đinh Mão (907) nhà Đường (618-907) bị nhà Lương diệt, nhân cơ hội đó, Khúc Thừa Dụ ở đất Giao Châu (nước Việt ngày xưa) được các tướng ở địa phương cử lên làm Tiết độ sứ, độc lập ở phương Nam (906), được một năm thì mất, con là Khúc Hạo lên thay.
- Năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ (có sách đọc là Dương Diên Nghệ) là tướng của họ Khúc, thống nhất được các lực lượng ở địa phương, nổi lên chống lại quân Tàu, tự xưng làm Tiết độ sứ, độc lập ở phương Nam. Được 6 năm thì ông bị Kiều Công Tiễn phản bội, giết ông để cướp quyền. Con rễ của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn kêu cứu với vua Nam Hán (Nam Trung Quốc) là Lưu Cung. Thái Tử của Nam Hán là Lưu Hoằng Tháo đem quân qua nước ta, bị Ngô Quyền đánh bại trong trận Bạch Đằng vào năm 938. năm sau, 939, Ngô Quyền lên ngôi lập ra nền độc lập cho nước ta sau thời kỳ bị Trung Quốc đô hộ. Sau nhà Ngô đến Đinh Bộ Lĩnh, nước ta giữ được độc lập và mở mang bờ cõi cho đến ngày nay.
- Năm Ất Mão (1075), Lý Thường Kiệt theo lệnh của vua Lý Nhân Tông (1072-1127) đem quân đánh chiếm các châu Khâm, châu Liêm, châu Ung (nay thuộc Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, lãnh thổ Trung Quốc thời nhà Tống). Tướng nhà Lý là Tôn Đản vây thành 40 ngày, tướng nhà Tống là Tô Dam giữ thành không được bèn cùng vợ con tất cả 36 người tự tử một lượt. Dân trong thành không chịu đầu hàng nên bị quân nhà Lý tàn sát hàng vạn người. Cũng trong năm đó, trước khi đem quân đánh nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã đem quân đánh Chiêm Thành, thu hồi đất của Chế Củ đã nhường ngày trước và đem dân Việt từ Bắc vào ở. Ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành gọi là Cửa Việt, thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ.
- Năm Ất Mão (1315) vua Trần Minh Tông (1314-1329) ban hành luật cấm người trong họ hàng không được đi thưa kiện nhau để giữ tình nghĩa bà con, tạo nên phong tục tốt trong nhân dân.
- Năm Quý Mão (1423), Bình Định Vương Lê Lợi, sau khi đánh nhau với quân nhà Minh bị tổn thất nặng và bị bao vây trong vùng núi Chí Linh, thiếu lương thực, đã xin hòa với giặc rồi đem quân trở về đóng ở Lam Sơn để củng cố lực lượng. Tướng nhà Minh là Trần Trí sai người đem trâu, ngựa, thực phẩm đến cho. Vương cũng đưa vàng bạc làm lễ tạ ơn. Về sau Trần Trí có bụng nghi ngờ, bắt giữ sứ giả của nhà Lê là Lê Trăn nên Bình Định Vương tuyệt giao với quân nhà Minh và chuẩn bị mở rộng kháng chiến, đánh chiếm vùng Nghệ An.
- Năm Kỷ Mão (1459) Thái Tử Nghi Dân giết Lê Nhân Tông (1443-1459) và Hoàng Thái Hậu, mẹ vua rồi tự tôn lên làm vua. Đây là thời kỳ đen tối của triều đại nhà Lê sau Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Về sau Nghi Dân bị Đại thần nhà Lê là Nguyễn Xí, Đinh Liệt lật đổ và tôn Thái Tử Lê Tư Thành lên ngôi tức Lê Thánh Tông (1460-1497), lập ra triều đại thạnh trị cho nhà Lê cả về chính trị, quân sự lẫn văn hóa, xã hội.
- Năm Ất Mão (1579), chú của vua nhà Mạc là Mạc Kính Điển, một nhà quân sự kiêm chính trị danh tiếng của nhà Mạc mất. Từ đó, thế lực của nhà Mạc yếu dần, mặc dù các tướng nhà Mạc đã cố gắng mở các mặt trận tấn công nhà Lê ở phương Nam, nhưng không tạo nên được thắng lợi nào. Cuối cùng nhà Mạc đã bị tiêu diệt.
- Năm Tân Mão (1591), Trịnh Tùng đem đại quân, với danh nghĩa phò Lê từ Thanh Hóa tiến ra Nam Định. Vua nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp cũng tập trung lực lượng mười vạn quân để quyết một trận sống chết với quân nhà Lê. Nhưng vì nội bộ nhà Mạc lủng củng, Mạc Mậu Hợp mê vợ của tướng Bùi Văn Khuê nên lập mưu đày ông này ra mặt trận, muốn dùng tay quân Trịnh giết hại Khuê. Do đó, Khuê đầu hàng Trịnh Tùng và dẫn quân nhà Lê đánh nhà Mạc. Quân Mạc thua to, Mạc Mậu Hợp bị bắt đem về Thăng Long xử tội. Năm 1592, Trịnh Tùng rước vua Lê vào thành Thăng Long, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê từ Mạc Đăng Dung (1527) đến Mạc Mậu Hợp (1592) làm vua được 65 năm. Con cháu họ Mạc chạy lên Cao Bằng, nhờ thế lực nhà Minh che chở, tồn tại được 30 năm nữa, cuối cùng bị tướng nhà Lê là Trịnh Kiều tiêu diệt.
- Năm Ất Mão (1615), giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Buzomi vào giảng đạo Thiên Chúa tại Quảng Trị, Huế.
- Năm Đinh Mão (1627), sau khi Nguyễn Hoàng mất (1613), con là Nguyễn Phúc Nguyên công khai chống lại họ Trịnh, không chịu nộp thuế, không chịu ra chầu vua Lê ở Thăng Long… Trịnh Tráng, con Trịnh Tùng nối ngôi cha làm chúa ở Thăng Long bèn rước vua Lê đi đánh họ Nguyễn ở Thuận Hóa. Đây là trận đầu tiên trong cuộc Nam Bắc phân tranh giữa hai họ Trịnh ở Đàng Ngoài (Bắc Hà) và Nguyễn ở Đàng Trong (Nam Hà). Có tất cả 7 trận đánh trong vòng 45 năm từ 1627 đến 1672. Sau đó cả hai bên đều tự động ngưng chiến, lấy sông Gianh (Linh Giang) làm giới hạn. Các trận đánh đều do quân họ Trịnh (Bắc) tấn công họ Nguyễn (Nam) chỉ có trận 1655, quân Nguyễn do hai tướng Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật tấn công ra Bắc chiếm 7 huyện phía Nam sông Lam, trấn giữ trong vòng 10 năm, bắt dân vùng này cho vào lập nghiệp ở vùng đất mới chiếm của Chiêm Thành từ Quảng Ngãi trở vào. Tổ tiên của Tây Sơn là Hồ Phi Phúc từ Nghệ An đã bị bắt đem vào đây trong thời gian này.
- Năm Quý Mão (1663), bên Trung Quốc nhà Thanh đã diệt được nhà Minh, bèn cho sứ qua dụ vua Lê chúa Trịnh triều cống nhà Thanh. Trịnh Tạc liền cho người mang lễ vật qua xin nhà Thanh phong cho vua Lê. Bốn năm sau, 1667, vua Khang Hy nhà Thanh sai sứ qua Thăng Long, phong cho vua Lê làm An Nam Quốc Vương. Cũng năm 1663 (Quý Mão), Trịnh Tạc ra lệnh cấm đạo Thiên Chúa ở miền Bắc.
- Năm Kỷ Mão (1699) vua nước Chân Lạp (Kampuchia) là Nặc Ông Thu đem quân chống với quân chúa Nguyễn. Tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đuổi đến thành Nam Vang. Nặc Ông Thu bỏ chạy, về sau ra hàng, xin triều cống như cũ. Chúa Nguyễn chia nước Chân Lạp làm hai, một nửa cho Nặc Ông Thu, một nửa cho Nặc Ông Nộn.
- Năm Tân Mão (1771), Trịnh Quốc Anh là người Triều Châu sang ở đất Xiêm, tự xưng làm vua, bắt vua Chân Lạp phải triều cống. Nhưng vua Chân Lạp là Nặc Ông Tôn không chịu và theo chúa Nguyễn. Quân Xiêm của Trịnh Quốc Anh đánh nhau với quân Chân Lạp (Kampuchia) và uy hiếp thành trì của Mạc Cửu ở Hà Tiên. Lúc bấy giờ Mạc Cửu đã chết, con là Mạc Thiên Tứ không giữ được thành, phải bỏ chạy. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Đàm đem binh thuyền đi đánh quân Xiêm, tiến chiếm lại thành Nam Vang (Chân Lạp), quân Xiêm phải rút về.
- Năm Đinh Mão (1687) chúa Nguyễn Phúc Trăn dời đô về làng Phú Xuân tức thành Huế bây giờ, thường gọi là thành Phú Xuân hay kinh đô Phú Xuân. Trước đó, vào thời chúa Nguyễn Hoàng 1558, đóng ở Ái Tử, nay thuộc phủ Triệu Phong (Quảng Trị), sau dời về làng Trà Bát gần đó. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên thì dời vào làng Phước Yên, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), đời chúa Nguyễn Phúc Lan dời vào làng Kim Long, huyện Hương Trà (Thừa Thiên) và đời chúa Nguyễn Phúc Trăn dời về Phú Xuân.
- Năm Tân Mão (1771), anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi nghĩa, quy tụ nhiều lực lượng tại địa phương, lấy danh nghĩa chống quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ cháu đích tôn của chúa Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Dương. Chỉ trong một vài năm mà họ đã chiếm được cả một vùng, dân chúng đi theo họ rất đông.
- Năm Quý Mão (1783), quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ vào đánh thành Gia Định (Sài Gòn), chúa Nguyễn Phúc Ánh phải đem gia đình chạy trốn ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Huệ lại đem quân ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Phúc Ánh phải chạy ra đảo Cổ Long rồi Cổ Cốt. May nhờ có trận bão, binh thuyền Tây Sơn bị đắm rất nhiều, Nguyễn Phúc Ánh liều chết cho thuyền chạy ra giữa cơn bão, may có cơn gió đưa thuyền thẳng ra khơi và thoát được qua hướng Vịnh Xiêm La (biển Thái Lan)… Trong khi đó ở miền Bắc, Trịnh Sâm chết (1782) Đặng Thị Huệ dựa vào thế lực của Hoàng Đình Bảo, phế bỏ con trưởng của Sâm là Trịnh Tông (Khãi) mà lập con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán, còn nhỏ, lên ngôi. Lính Tam Phủ làm loạn giết Hoàng Đình Bảo, bắt giam Đặng Thị Huệ, đưa Trịnh Tông lên làm chúa. Tình hình ở Thăng Long rất lộn xộn tạo điều kiện cho quân Tây Sơn theo Nguyễn Hữu Chỉnh từ Thuận Hóa kéo ra đánh lấy Bắc Hà.
- Năm Ất Mão (1795), Võ Tánh là tướng của chúa Nguyễn chiếm được thành Diên Khánh (gần Nha Trang) của Tây Sơn, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân từ Thuận Hóa vào giải vây. Võ Tánh quyết giữ thành, Trần Quang Diệu đánh mãi không được. Đầu năm sau, chúa Nguyễn Phúc Ánh đem quân từ Gia Định ra cứu… Trong lúc quân hai bên đang chống nhau chưa phân thắng bại ở Quy Nhơn thì ở Phú Xuân (Huế), nội bộ triều đình Tây Sơn chia rẽ, quan Thái Sư Bùi Đắc Tuyên, cậu ruột của vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) chuyên quyền, cho Ngô Văn Sở ra Bắc Hà thay Võ Văn Dũng và gọi Võ Văn Dũng về Phú Xuân; cách chức Trần Văn Kỷ là quân sư của vua Quang Trung trước đây và đày ra Mỹ Chánh làm lính cắt cỏ cho ngựa. Trên đường trở về Phú Xuân, Võ Văn Dũng đã gặp Trần Văn Kỷ, biết rõ mọi chuyện bèn cùng Trần Văn Kỷ kéo về lật đổ Bùi Đắc Tuyên rồi sai Nguyễn Văn Huấn vào Quy Nhơn bắt con của Tuyên là Bùi Đắc Trụ đang làm trấn thủ ở đấy, đem về Phú Xuân. Võ Văn Dũng và Trần Văn Kỷ nhân danh vua ra lệnh cho em vua là Nguyễn Quang Thùy lúc đó đang ở Thăng Long, phải cách chức Ngô Văn Sở và giải về Phú Xuân, lập tòa án xử tội cha con Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, bị dìm nước chết. Trần Quang Diệu nghe tin, kéo quân về Phú Xuân, đóng ở An Cựu, phía Nam sông Hương chống nhau với Võ Văn Dũng. Vua Cảnh Thịnh phải cho quan đứng ra kêu gọi hai bên giảng hòa. Bốn người được đưa lên hàng quan trọng nhất của triều đình Tây Sơn ở Phú Xuân là Trần Quang Diệu (Thiếu Phó), Nguyễn Văn Huấn (Thiếu Bảo), Vũ Văn Dũng (Đại Tư Đồ) và Nguyễn Văn Danh tức Nguyễn Văn Tứ (Đại Tư Mã) gọi là tứ trụ đại thần. Do sự chia rẽ đó mà triều đình Tây Sơn dần dần suy yếu và về sau bị mất về tay chúa Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long).
- Năm Đinh Mão (1807), vua Gia Long đã xây xong thành Phú Xuân, tức kinh đô nhà Nguyễn ở Huế. Thành ngoại và thành nội đã xong, nhưng việc kiến thiết các cung điện vẫn còn kéo dài cho đến đời Minh Mạng (1820-1840) mới hoàn thành. Cũng trong năm nầy, vua nước Chân Lạp (Kampuchia) là Nặc Ông Chân bỏ không thần phục vua Xiêm (Thái Lan) mà xin về thần phục vua Việt Nam, cứ ba năm theo lệ đến triều cống một lần. (Phẩm vật gồm có: 2 con voi đực cao 5 thước ta, 2 chiếc sừng tê giác, 2 cái ngà voi, 50 cân hột sa nhân, 50 cân đậu khấu, 50 cân sáp ong, 50 cân cánh kiến, 20 lọ sơn đen).
- Năm Kỷ Mão (1819) đời vua Gia Long, có mấy tàu buôn của Pháp chở hàng hóa đến cửa Đà Nẵng buôn bán và mua các sản phẩm của nước ta đem về. Dịp đó, ông Chaigneau, một người Pháp đã giúp vua Gia Long đánh Tây Sơn ngày trước và đang làm quan tại triều đình cũng xin nghỉ ba năm để đem vợ con về Pháp.
Vua Gia Long tên là Nguyễn Phúc Ánh mất, miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng Đế của nhà Nguyễn, thọ 59 tuổi, ở ngôi được 18 năm.
- Năm Tân Mão (1831), vua Minh Mạng ra lệnh cải tổ hành chánh bắt chước theo nhà Thanh (Trung Quốc) đổi trấn làm tỉnh; tỉnh lớn thì có chức Tổng Đốc, tỉnh nhỏ thì có chức Tuần Vũ, Bố Chính sứ, Án Sát sứ và Lãnh Binh. Tổng Đốc có trọn quyền hành chánh, quân sự trong tỉnh của mình; Tuần Vũ thì coi về hành chánh, giáo dục; Bố Chánh thì coi về tài chánh, thuế má, ruộng đất, dân và lính v.v. ở trong tỉnh; Án Sát sứ coi về tòa án, xét xử, thi hành luật pháp kiêm luôn ngành bưu điện; Lãnh Binh thì coi về an ninh, chỉ huy lính trong tỉnh. Từ Tuần Vũ trở xuống đều thuộc quyền Tổng Đốc. Tổng Đốc hoặc coi một tỉnh lớn hoặc kiêm luôn hai, ba tỉnh nhỏ…
- Năm Kỷ Mão (1879), Khâm Sứ Pháp ở Huế là Philastre về nước và Rheinart trở lại làm Khâm Sứ ở Huế. Le Myr de Vilers làm Thống Đốc ở Sài Gòn, cai trị xứ Nam Kỳ thuộc địa của Pháp. Philastre là một người biết chữ Nho, hiểu văn hóa phong tục Việt Nam nên việc giao thiệp giữa triều đình Huế và Pháp dễ dàng hơn. Khi Philastre về nước rồi, sự giao thiệp giữa hai bên Pháp Việt càng ngày càng khó khăn hơn.
- Năm Ất Mão (1915), nước Pháp bị nước Đức tấn công trong thế giới chiến tranh lần thứ nhất (1914-1918), một số thanh niên Việt Nam được đưa qua Pháp làm lính thợ trong các nhà máy và thanh niên Pháp được lệnh phải gia nhập quân đội để bảo vệ nước Pháp.
- Năm Đinh Mão (1927), Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày lễ Thiên Chúa Giáng Sinh 25-12-1927 và ba năm sau, cuộc khởi nghóa Yên Báy (1930) thất bại, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị bắt, bị xử tử.
- Năm Kỷ Mão (1939) Thế giới chiến tranh lần thứ hai bùng nổ ở Âu Châu giữa Đức và Pháp, Anh, Nga v.v. Đức và Ý được gọi là phe Trục và các nước Pháp, Anh, Nga v.v. được gọi là phe Đồng Minh. Ở Á Châu, Nhật đánh Trung Hoa, chiếm Mãn Châu, chiếm Đông Dương và các nước Đông Nam Á. Mỹ đứng về phe Đồng Minh, đổ bộ Normandie giải cứu Âu Châu và đánh nhau với Nhật sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor). Mỹ đã thả hai trái bom nguyên tử đầu tiên xuống hai thành phố Hiroshima và Nagazaki của Nhật, vua Nhật đầu hàng. Tại Âu Châu, quân Đức cũng thua quân Đồng Minh. Lãnh tụ độc tài Hitler của Đức tự tử. Năm 1945, kết thúc thế giới chiến tranh lần thứ hai.
Tại Việt Nam, Trương Tử Anh lập ra Đại Việt Quốc Dân Đảng với chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn (1939).
- Năm Tân Mão (1951), chiến tranh giữa Việt Minh (do Hồ Chí Minh lãnh đạo) và Pháp tại Việt Nam đang hồi biến chuyển. Việt Minh từ thế yếu chuyển qua thế tấn công sau khi Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc (1949) và hậu thuẫn cho Việt Minh ở biên giới Việt-Trung. Phe Quốc Gia do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo, được Pháp trao trả độc lập từ 1949 và ở trong khối Liên Hiệp Pháp, chưa đủ mạnh để đương đầu với Cộng Sản. Kết quả, Việt Minh thắng trận Điện Biên Phủ 7 tháng 5, 1954 và 20-7-1954, hiệp định Genève ra đời, nước Việt Nam bị chia đôi, miền Bắc thuộc Việt Minh (chế độ Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo) miền Nam thuộc Quốc Gia (do Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo).
- Năm Quý Mão (1963), Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị phe quân nhân do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu lật đổ và sát hại vào ngày 2 tháng 11 năm 1963. Ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng từ 7-7-1954, ngày 23-10-1955, ông tổ chức trưng cầu dân ý, lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại (lúc đó đang ở Pháp) và làm Quốc Trưởng Việt Nam, sau đó trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa theo Hiến Pháp do Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo và ban hành ngày 26-10-1956.
- Năm Ất Mão (1975), Cộng Sản Miền Bắc sau khi ký hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, đã không tôn trọng lời cam kết, xua quân đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Mỹ rút lui khỏi Việt Nam và không tiếp tục viện trợ quân sự, vũ khí cho Việt Nam. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và bỏ trốn khỏi nước, trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Trần Văn Hương bất lực và trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh. Hiến Pháp đương nhiên bị xé bỏ vì sự trao quyền nầy là bất hợp hiến, hoàn toàn không dựa trên một điều khoản nào theo Hiến Pháp đã quy định. Sau khi lên làm Tổng Thống VNCH, Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng Cộng Sản. Hàng triệu người đã phục vụ dưới lá cờ VNCH trong đó gồm có binh sĩ, sĩ quan, cán bộ, công chức, các thành phần chính trị, tôn giáo, dân cử, báo chí v.v. đã bị bắt đi tù trong các trại tập trung của Cộng Sản VN gọi là trại Cải Tạo. Hàng triệu người vượt biên, đa số đã chết trên rừng, trên biển, một số sống sót hiện định cư ở ngoại quốc, đa số tại Hoa Kỳ. Cuộc chiến đấu đòi hỏi quyền tự do tôn giáo, tự do chính trị và quyền con người cho Việt Nam hiện đang tiếp tục ở trong nước và ở hải ngoại.
- Năm Đinh Mão (1987), do sự can thiệp của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, vào dịp 2 tháng 9-1987 và Tết Mậu Thìn, 1988, Cộng Sản Việt Nam đã trả tự do cho một số tù chính trị quan trọng và sau đó đã lập thủ tục cho họ được định cư tại Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn chính trị (HO).
- Năm Kỷ Mão (1999), một chu kỳ 60 năm kể từ 1939, năm bắt đầu thế giới chiến tranh lần thứ hai cho đến nay, nước Việt Nam và dân tộc chúng ta đã trải qua biết bao biến cố đau thương, hàng triệu người bị chết một cách thê thảm trong chiến tranh, trong hận thù giữa Cộng Sản và Quốc Gia; biết bao người mang thương tích, những gia đình tan nát, những trẻ em mồ côi, những góa phụ v.v. những người mất quê hương, nhà cửa, ruộng vườn, bỏ cả tài sản, bỏ lại mồ mả tổ tiên, bỏ lại người thân để ra đi tìm tự do…. Cả một dân tộc đang phải sống dưới cảnh áp bức, bất công, nghèo đói, lầm than…
- Năm Tân Mão (2011) Như đã nói ở trên: năm Tân Mão (2011) sắp đến là năm mà các nhóm tín đồ của các tôn giáo trong nước cũng như hải ngoại tiên đoán sẽ là năm đại họa cho dân tộc Việt Nam và nhân loại. Từ năm 1945, sau khi cướp được chính quyền tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và bọn đàn em đã theo lệnh Cộng Sản Nga và Cộng Sản Tàu, chủ trương gây ra một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, tiêu diệt những người yêu nước không Cộng Sản và tu sĩ, tín đồ các tôn giáo, hy sinh hàng triệu đồng bào… đi vay súng đạn, quân trang, quân dụng, lương thực, tiền bạc… để thực hiện cho được chế độ Cộng Sản độc tài tồn trị trên đất nước Việt Nam và chúng đã thành công trong việc cưỡng chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975. Bây giờ chúng bắt dân tộc Việt Nam, đồng bào Việt Nam phải trả nợ cho Trung Cộng. Vì thế hiện nay trong nước cũng như hải ngoại đều rộ lên những phong trào chống đối việc dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng; chống việc cướp đi sự sống của dân bằng cách cho Trung Cộng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, làm ngơ trước những hành động xâm lăng, gây hấn, đối xử bất công với ngư dân Việt Nam của Trung Cộng, những hành vi buôn lậu, đưa hàng giả của Trung Cộng vào lũng đoạn nên kinh tế quốc dân VN,v.v… Việc Cộng Sản đàn áp tín đồ, tịch thu cơ sở thờ tự, trường học, bệnh viện, cơ sở từ thiện… của các tôn giáo để biến thành cơ sở kinh doanh buôn bán làm giàu cho một số đảng viên cao cấp đang nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền… Một xã hội thối nát, bất công như thế chắc chắn đang trên bờ vực thẳm.
Chúng ta chờ đợi năm mới Tân Mão đến với tình hình căng thẳng ở biển Đông do Trung Cộng thao túng, với sự thách thức của Mỹ, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Việt Nam và các nước trong khu vực đối đầu với Trung Cộng…
Liệu biến cố gì sẽ xảy ra trong tương lai?
Nguyễn Lý Tưởng

Nguyễn Lý Tưởng
Mười hai năm trước đây, khi qua được cái năm Mậu Dần (1998), một số người cảm thấy nhẹ nhõm vì qua được ba năm “Tý hư, Sửu hao, Dần bất lợi” để bước vào năm Kỷ Mão (1999) với nhiều hy vọng. Ba năm đó, nếu không thua thiệt mặt nầy thì cũng mất mát mặt khác; không đau ốm, tai nạn thì cũng mất mùa, dịch tễ, chiến tranh… Nhưng năm Kỷ Mão (1999) lại là năm chuẩn bị bước vào năm hai ngàn. Đã từ nhiều đời nay, người ta vẫn nói năm 2000 là năm tận thế… Một số người giải thích sấm ký và kêu gọi mọi người ăn năn, hối cải, sống cuộc đời đạo đức để khỏi bị phạt nơi hỏa ngục! Nếu không tận thế thì nhân loại cũng sẽ gặp đại họa tiêu diệt gần hết, và số người còn sống sót sẽ rất ít để lập lại một thế giới mới, tốt đẹp hơn, đạo đức hơn. Mới bước vào ngàn năm thứ ba, chưa hết lo âu lại gặp các năm Tý (Mậu Tý: 2008), Sửu (Kỷ Sửu: 2009) và Dần (Canh Dần: 2010)… Một lần nữa, thiên hạ lại lo âu.
Ba năm vừa qua cũng là ba năm đầy các biến cố xảy ra trên tồn thế giới và ngay cả trên đất Hoa Kỳ nầy. Ba năm suy thoái trầm trọng về kinh tế, ba năm thiên tai, bão lụt, động đất, sóng thần, chiến tranh,v.v… Hàng trăm ngàn người chết trong một lúc. Mấy năm gần đây, bên Việt Nam và ở hải ngoại có nhiều nhóm tôn giáo đưa ra những lời tiên đoán sẽ có những biến cố lớn xảy ra cho Việt Nam và thế giới vào hai năm 2011 và 2012 như: sự tàn phá, chết chóc do chiến tranh hoặc thiên tai… sẽ có những thay đổi quan trọng, thế giới hiện nay sẽ bị hủy diệt để nhường chỗ cho một thế giới mới tốt đẹp hơn… Do đó, mối âu lo vẫn còn canh cánh bên lòng.
Năm Tân Mão sắp đến (2011) tương lai Việt Nam và nhân loại sẽ như thế nào?
Nhìn lại lịch sử nước nhà, những năm MÃO trong quá khứ, đã có những biến cố gì.
- Năm Quý Mão (258 trước Công Nguyên) là năm cuối cùng chấm dứt triều đại các vua Hùng của Việt Nam theo truyền thuyết. Đó là năm Thục Phán lập ra nước Âu Lạc và về sau giang sơn của Thục Phán đã bị Triệu Đà thôn tính để lập ra nước Nam Việt.
- Năm Tân Mão (31 thế kỷ thứ I) đời Quang Vũ nhà Hán bên Trung Quốc, sau khi diệt được Vương Mãng, củng cố được chính quyền rồi, thì các lãnh tụ ở đất cũ của Triệu Đà (Giao Chỉ) đã lần lượt theo về với vua nhà Hán và cho sứ đến triều cống.
- Năm Quý Mão (43), Trưng Trắc bị tướng nhà Hán là Mã Viện đánh bại, đất Giao Chỉ lại lệ thuộc nhà Hán như cũ. Người đời sau lấy ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão nầy làm ngày giổ Trưng Trắc, Trưng Nhị.
- Năm Tân Mão (571) Lý Phật Tử đem quân chống nhau với Triệu Quang Phục để tranh quyền. Nguyên vào năm 554, Lý Bôn (hay Lý Bí) tức Lý Nam Đế nổi lên chống lại nhà Lương (502-556) để giành độc lập, thua trận, ông trao binh quyền cho Triệu Quang Phục chỉ huy để chống lại với nhà Lương. Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương (khác với Nam Việt Vương là Triệu Đà thời xưa). Năm 558, Lý Nam Đế mất, anh họ của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo cùng với người trong họ là Lý Phật Tử đem quân chiếm một vùng và năm Quý Mão (571) Lý Phật Tử chống lại Triệu Quang Phục để tranh quyền. Triệu Quang Phục đem con gái gả cho Lý Phật Tử để cầu hòa, nhưng Lý Phật Tử vẫn có lòng phản trắc, đem quân đánh Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục thua, Lý Phật Tử xưng vương. Bên Trung Quốc nhà Tùy diệt được nhà Lương, thống nhất thiên hạ, sai tướng là Lưu Phương đem quân chinh phục miền Nam. Lý Phật Tử về hàng nhà Tùy, nước ta lại lệ thuộc phương Bắc như cũ.
- Năm Đinh Mão (907) nhà Đường (618-907) bị nhà Lương diệt, nhân cơ hội đó, Khúc Thừa Dụ ở đất Giao Châu (nước Việt ngày xưa) được các tướng ở địa phương cử lên làm Tiết độ sứ, độc lập ở phương Nam (906), được một năm thì mất, con là Khúc Hạo lên thay.
- Năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ (có sách đọc là Dương Diên Nghệ) là tướng của họ Khúc, thống nhất được các lực lượng ở địa phương, nổi lên chống lại quân Tàu, tự xưng làm Tiết độ sứ, độc lập ở phương Nam. Được 6 năm thì ông bị Kiều Công Tiễn phản bội, giết ông để cướp quyền. Con rễ của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn kêu cứu với vua Nam Hán (Nam Trung Quốc) là Lưu Cung. Thái Tử của Nam Hán là Lưu Hoằng Tháo đem quân qua nước ta, bị Ngô Quyền đánh bại trong trận Bạch Đằng vào năm 938. năm sau, 939, Ngô Quyền lên ngôi lập ra nền độc lập cho nước ta sau thời kỳ bị Trung Quốc đô hộ. Sau nhà Ngô đến Đinh Bộ Lĩnh, nước ta giữ được độc lập và mở mang bờ cõi cho đến ngày nay.
- Năm Ất Mão (1075), Lý Thường Kiệt theo lệnh của vua Lý Nhân Tông (1072-1127) đem quân đánh chiếm các châu Khâm, châu Liêm, châu Ung (nay thuộc Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, lãnh thổ Trung Quốc thời nhà Tống). Tướng nhà Lý là Tôn Đản vây thành 40 ngày, tướng nhà Tống là Tô Dam giữ thành không được bèn cùng vợ con tất cả 36 người tự tử một lượt. Dân trong thành không chịu đầu hàng nên bị quân nhà Lý tàn sát hàng vạn người. Cũng trong năm đó, trước khi đem quân đánh nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã đem quân đánh Chiêm Thành, thu hồi đất của Chế Củ đã nhường ngày trước và đem dân Việt từ Bắc vào ở. Ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành gọi là Cửa Việt, thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ.
- Năm Ất Mão (1315) vua Trần Minh Tông (1314-1329) ban hành luật cấm người trong họ hàng không được đi thưa kiện nhau để giữ tình nghĩa bà con, tạo nên phong tục tốt trong nhân dân.
- Năm Quý Mão (1423), Bình Định Vương Lê Lợi, sau khi đánh nhau với quân nhà Minh bị tổn thất nặng và bị bao vây trong vùng núi Chí Linh, thiếu lương thực, đã xin hòa với giặc rồi đem quân trở về đóng ở Lam Sơn để củng cố lực lượng. Tướng nhà Minh là Trần Trí sai người đem trâu, ngựa, thực phẩm đến cho. Vương cũng đưa vàng bạc làm lễ tạ ơn. Về sau Trần Trí có bụng nghi ngờ, bắt giữ sứ giả của nhà Lê là Lê Trăn nên Bình Định Vương tuyệt giao với quân nhà Minh và chuẩn bị mở rộng kháng chiến, đánh chiếm vùng Nghệ An.
- Năm Kỷ Mão (1459) Thái Tử Nghi Dân giết Lê Nhân Tông (1443-1459) và Hoàng Thái Hậu, mẹ vua rồi tự tôn lên làm vua. Đây là thời kỳ đen tối của triều đại nhà Lê sau Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Về sau Nghi Dân bị Đại thần nhà Lê là Nguyễn Xí, Đinh Liệt lật đổ và tôn Thái Tử Lê Tư Thành lên ngôi tức Lê Thánh Tông (1460-1497), lập ra triều đại thạnh trị cho nhà Lê cả về chính trị, quân sự lẫn văn hóa, xã hội.
- Năm Ất Mão (1579), chú của vua nhà Mạc là Mạc Kính Điển, một nhà quân sự kiêm chính trị danh tiếng của nhà Mạc mất. Từ đó, thế lực của nhà Mạc yếu dần, mặc dù các tướng nhà Mạc đã cố gắng mở các mặt trận tấn công nhà Lê ở phương Nam, nhưng không tạo nên được thắng lợi nào. Cuối cùng nhà Mạc đã bị tiêu diệt.
- Năm Tân Mão (1591), Trịnh Tùng đem đại quân, với danh nghĩa phò Lê từ Thanh Hóa tiến ra Nam Định. Vua nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp cũng tập trung lực lượng mười vạn quân để quyết một trận sống chết với quân nhà Lê. Nhưng vì nội bộ nhà Mạc lủng củng, Mạc Mậu Hợp mê vợ của tướng Bùi Văn Khuê nên lập mưu đày ông này ra mặt trận, muốn dùng tay quân Trịnh giết hại Khuê. Do đó, Khuê đầu hàng Trịnh Tùng và dẫn quân nhà Lê đánh nhà Mạc. Quân Mạc thua to, Mạc Mậu Hợp bị bắt đem về Thăng Long xử tội. Năm 1592, Trịnh Tùng rước vua Lê vào thành Thăng Long, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê từ Mạc Đăng Dung (1527) đến Mạc Mậu Hợp (1592) làm vua được 65 năm. Con cháu họ Mạc chạy lên Cao Bằng, nhờ thế lực nhà Minh che chở, tồn tại được 30 năm nữa, cuối cùng bị tướng nhà Lê là Trịnh Kiều tiêu diệt.
- Năm Ất Mão (1615), giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Buzomi vào giảng đạo Thiên Chúa tại Quảng Trị, Huế.
- Năm Đinh Mão (1627), sau khi Nguyễn Hoàng mất (1613), con là Nguyễn Phúc Nguyên công khai chống lại họ Trịnh, không chịu nộp thuế, không chịu ra chầu vua Lê ở Thăng Long… Trịnh Tráng, con Trịnh Tùng nối ngôi cha làm chúa ở Thăng Long bèn rước vua Lê đi đánh họ Nguyễn ở Thuận Hóa. Đây là trận đầu tiên trong cuộc Nam Bắc phân tranh giữa hai họ Trịnh ở Đàng Ngoài (Bắc Hà) và Nguyễn ở Đàng Trong (Nam Hà). Có tất cả 7 trận đánh trong vòng 45 năm từ 1627 đến 1672. Sau đó cả hai bên đều tự động ngưng chiến, lấy sông Gianh (Linh Giang) làm giới hạn. Các trận đánh đều do quân họ Trịnh (Bắc) tấn công họ Nguyễn (Nam) chỉ có trận 1655, quân Nguyễn do hai tướng Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật tấn công ra Bắc chiếm 7 huyện phía Nam sông Lam, trấn giữ trong vòng 10 năm, bắt dân vùng này cho vào lập nghiệp ở vùng đất mới chiếm của Chiêm Thành từ Quảng Ngãi trở vào. Tổ tiên của Tây Sơn là Hồ Phi Phúc từ Nghệ An đã bị bắt đem vào đây trong thời gian này.
- Năm Quý Mão (1663), bên Trung Quốc nhà Thanh đã diệt được nhà Minh, bèn cho sứ qua dụ vua Lê chúa Trịnh triều cống nhà Thanh. Trịnh Tạc liền cho người mang lễ vật qua xin nhà Thanh phong cho vua Lê. Bốn năm sau, 1667, vua Khang Hy nhà Thanh sai sứ qua Thăng Long, phong cho vua Lê làm An Nam Quốc Vương. Cũng năm 1663 (Quý Mão), Trịnh Tạc ra lệnh cấm đạo Thiên Chúa ở miền Bắc.
- Năm Kỷ Mão (1699) vua nước Chân Lạp (Kampuchia) là Nặc Ông Thu đem quân chống với quân chúa Nguyễn. Tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đuổi đến thành Nam Vang. Nặc Ông Thu bỏ chạy, về sau ra hàng, xin triều cống như cũ. Chúa Nguyễn chia nước Chân Lạp làm hai, một nửa cho Nặc Ông Thu, một nửa cho Nặc Ông Nộn.
- Năm Tân Mão (1771), Trịnh Quốc Anh là người Triều Châu sang ở đất Xiêm, tự xưng làm vua, bắt vua Chân Lạp phải triều cống. Nhưng vua Chân Lạp là Nặc Ông Tôn không chịu và theo chúa Nguyễn. Quân Xiêm của Trịnh Quốc Anh đánh nhau với quân Chân Lạp (Kampuchia) và uy hiếp thành trì của Mạc Cửu ở Hà Tiên. Lúc bấy giờ Mạc Cửu đã chết, con là Mạc Thiên Tứ không giữ được thành, phải bỏ chạy. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Đàm đem binh thuyền đi đánh quân Xiêm, tiến chiếm lại thành Nam Vang (Chân Lạp), quân Xiêm phải rút về.
- Năm Đinh Mão (1687) chúa Nguyễn Phúc Trăn dời đô về làng Phú Xuân tức thành Huế bây giờ, thường gọi là thành Phú Xuân hay kinh đô Phú Xuân. Trước đó, vào thời chúa Nguyễn Hoàng 1558, đóng ở Ái Tử, nay thuộc phủ Triệu Phong (Quảng Trị), sau dời về làng Trà Bát gần đó. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên thì dời vào làng Phước Yên, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), đời chúa Nguyễn Phúc Lan dời vào làng Kim Long, huyện Hương Trà (Thừa Thiên) và đời chúa Nguyễn Phúc Trăn dời về Phú Xuân.
- Năm Tân Mão (1771), anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi nghĩa, quy tụ nhiều lực lượng tại địa phương, lấy danh nghĩa chống quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ cháu đích tôn của chúa Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Dương. Chỉ trong một vài năm mà họ đã chiếm được cả một vùng, dân chúng đi theo họ rất đông.
- Năm Quý Mão (1783), quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ vào đánh thành Gia Định (Sài Gòn), chúa Nguyễn Phúc Ánh phải đem gia đình chạy trốn ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Huệ lại đem quân ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Phúc Ánh phải chạy ra đảo Cổ Long rồi Cổ Cốt. May nhờ có trận bão, binh thuyền Tây Sơn bị đắm rất nhiều, Nguyễn Phúc Ánh liều chết cho thuyền chạy ra giữa cơn bão, may có cơn gió đưa thuyền thẳng ra khơi và thoát được qua hướng Vịnh Xiêm La (biển Thái Lan)… Trong khi đó ở miền Bắc, Trịnh Sâm chết (1782) Đặng Thị Huệ dựa vào thế lực của Hoàng Đình Bảo, phế bỏ con trưởng của Sâm là Trịnh Tông (Khãi) mà lập con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán, còn nhỏ, lên ngôi. Lính Tam Phủ làm loạn giết Hoàng Đình Bảo, bắt giam Đặng Thị Huệ, đưa Trịnh Tông lên làm chúa. Tình hình ở Thăng Long rất lộn xộn tạo điều kiện cho quân Tây Sơn theo Nguyễn Hữu Chỉnh từ Thuận Hóa kéo ra đánh lấy Bắc Hà.
- Năm Ất Mão (1795), Võ Tánh là tướng của chúa Nguyễn chiếm được thành Diên Khánh (gần Nha Trang) của Tây Sơn, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân từ Thuận Hóa vào giải vây. Võ Tánh quyết giữ thành, Trần Quang Diệu đánh mãi không được. Đầu năm sau, chúa Nguyễn Phúc Ánh đem quân từ Gia Định ra cứu… Trong lúc quân hai bên đang chống nhau chưa phân thắng bại ở Quy Nhơn thì ở Phú Xuân (Huế), nội bộ triều đình Tây Sơn chia rẽ, quan Thái Sư Bùi Đắc Tuyên, cậu ruột của vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) chuyên quyền, cho Ngô Văn Sở ra Bắc Hà thay Võ Văn Dũng và gọi Võ Văn Dũng về Phú Xuân; cách chức Trần Văn Kỷ là quân sư của vua Quang Trung trước đây và đày ra Mỹ Chánh làm lính cắt cỏ cho ngựa. Trên đường trở về Phú Xuân, Võ Văn Dũng đã gặp Trần Văn Kỷ, biết rõ mọi chuyện bèn cùng Trần Văn Kỷ kéo về lật đổ Bùi Đắc Tuyên rồi sai Nguyễn Văn Huấn vào Quy Nhơn bắt con của Tuyên là Bùi Đắc Trụ đang làm trấn thủ ở đấy, đem về Phú Xuân. Võ Văn Dũng và Trần Văn Kỷ nhân danh vua ra lệnh cho em vua là Nguyễn Quang Thùy lúc đó đang ở Thăng Long, phải cách chức Ngô Văn Sở và giải về Phú Xuân, lập tòa án xử tội cha con Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, bị dìm nước chết. Trần Quang Diệu nghe tin, kéo quân về Phú Xuân, đóng ở An Cựu, phía Nam sông Hương chống nhau với Võ Văn Dũng. Vua Cảnh Thịnh phải cho quan đứng ra kêu gọi hai bên giảng hòa. Bốn người được đưa lên hàng quan trọng nhất của triều đình Tây Sơn ở Phú Xuân là Trần Quang Diệu (Thiếu Phó), Nguyễn Văn Huấn (Thiếu Bảo), Vũ Văn Dũng (Đại Tư Đồ) và Nguyễn Văn Danh tức Nguyễn Văn Tứ (Đại Tư Mã) gọi là tứ trụ đại thần. Do sự chia rẽ đó mà triều đình Tây Sơn dần dần suy yếu và về sau bị mất về tay chúa Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long).
- Năm Đinh Mão (1807), vua Gia Long đã xây xong thành Phú Xuân, tức kinh đô nhà Nguyễn ở Huế. Thành ngoại và thành nội đã xong, nhưng việc kiến thiết các cung điện vẫn còn kéo dài cho đến đời Minh Mạng (1820-1840) mới hoàn thành. Cũng trong năm nầy, vua nước Chân Lạp (Kampuchia) là Nặc Ông Chân bỏ không thần phục vua Xiêm (Thái Lan) mà xin về thần phục vua Việt Nam, cứ ba năm theo lệ đến triều cống một lần. (Phẩm vật gồm có: 2 con voi đực cao 5 thước ta, 2 chiếc sừng tê giác, 2 cái ngà voi, 50 cân hột sa nhân, 50 cân đậu khấu, 50 cân sáp ong, 50 cân cánh kiến, 20 lọ sơn đen).
- Năm Kỷ Mão (1819) đời vua Gia Long, có mấy tàu buôn của Pháp chở hàng hóa đến cửa Đà Nẵng buôn bán và mua các sản phẩm của nước ta đem về. Dịp đó, ông Chaigneau, một người Pháp đã giúp vua Gia Long đánh Tây Sơn ngày trước và đang làm quan tại triều đình cũng xin nghỉ ba năm để đem vợ con về Pháp.
Vua Gia Long tên là Nguyễn Phúc Ánh mất, miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng Đế của nhà Nguyễn, thọ 59 tuổi, ở ngôi được 18 năm.
- Năm Tân Mão (1831), vua Minh Mạng ra lệnh cải tổ hành chánh bắt chước theo nhà Thanh (Trung Quốc) đổi trấn làm tỉnh; tỉnh lớn thì có chức Tổng Đốc, tỉnh nhỏ thì có chức Tuần Vũ, Bố Chính sứ, Án Sát sứ và Lãnh Binh. Tổng Đốc có trọn quyền hành chánh, quân sự trong tỉnh của mình; Tuần Vũ thì coi về hành chánh, giáo dục; Bố Chánh thì coi về tài chánh, thuế má, ruộng đất, dân và lính v.v. ở trong tỉnh; Án Sát sứ coi về tòa án, xét xử, thi hành luật pháp kiêm luôn ngành bưu điện; Lãnh Binh thì coi về an ninh, chỉ huy lính trong tỉnh. Từ Tuần Vũ trở xuống đều thuộc quyền Tổng Đốc. Tổng Đốc hoặc coi một tỉnh lớn hoặc kiêm luôn hai, ba tỉnh nhỏ…
- Năm Kỷ Mão (1879), Khâm Sứ Pháp ở Huế là Philastre về nước và Rheinart trở lại làm Khâm Sứ ở Huế. Le Myr de Vilers làm Thống Đốc ở Sài Gòn, cai trị xứ Nam Kỳ thuộc địa của Pháp. Philastre là một người biết chữ Nho, hiểu văn hóa phong tục Việt Nam nên việc giao thiệp giữa triều đình Huế và Pháp dễ dàng hơn. Khi Philastre về nước rồi, sự giao thiệp giữa hai bên Pháp Việt càng ngày càng khó khăn hơn.
- Năm Ất Mão (1915), nước Pháp bị nước Đức tấn công trong thế giới chiến tranh lần thứ nhất (1914-1918), một số thanh niên Việt Nam được đưa qua Pháp làm lính thợ trong các nhà máy và thanh niên Pháp được lệnh phải gia nhập quân đội để bảo vệ nước Pháp.
- Năm Đinh Mão (1927), Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày lễ Thiên Chúa Giáng Sinh 25-12-1927 và ba năm sau, cuộc khởi nghóa Yên Báy (1930) thất bại, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị bắt, bị xử tử.
- Năm Kỷ Mão (1939) Thế giới chiến tranh lần thứ hai bùng nổ ở Âu Châu giữa Đức và Pháp, Anh, Nga v.v. Đức và Ý được gọi là phe Trục và các nước Pháp, Anh, Nga v.v. được gọi là phe Đồng Minh. Ở Á Châu, Nhật đánh Trung Hoa, chiếm Mãn Châu, chiếm Đông Dương và các nước Đông Nam Á. Mỹ đứng về phe Đồng Minh, đổ bộ Normandie giải cứu Âu Châu và đánh nhau với Nhật sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor). Mỹ đã thả hai trái bom nguyên tử đầu tiên xuống hai thành phố Hiroshima và Nagazaki của Nhật, vua Nhật đầu hàng. Tại Âu Châu, quân Đức cũng thua quân Đồng Minh. Lãnh tụ độc tài Hitler của Đức tự tử. Năm 1945, kết thúc thế giới chiến tranh lần thứ hai.
Tại Việt Nam, Trương Tử Anh lập ra Đại Việt Quốc Dân Đảng với chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn (1939).
- Năm Tân Mão (1951), chiến tranh giữa Việt Minh (do Hồ Chí Minh lãnh đạo) và Pháp tại Việt Nam đang hồi biến chuyển. Việt Minh từ thế yếu chuyển qua thế tấn công sau khi Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc (1949) và hậu thuẫn cho Việt Minh ở biên giới Việt-Trung. Phe Quốc Gia do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo, được Pháp trao trả độc lập từ 1949 và ở trong khối Liên Hiệp Pháp, chưa đủ mạnh để đương đầu với Cộng Sản. Kết quả, Việt Minh thắng trận Điện Biên Phủ 7 tháng 5, 1954 và 20-7-1954, hiệp định Genève ra đời, nước Việt Nam bị chia đôi, miền Bắc thuộc Việt Minh (chế độ Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo) miền Nam thuộc Quốc Gia (do Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo).
- Năm Quý Mão (1963), Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị phe quân nhân do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu lật đổ và sát hại vào ngày 2 tháng 11 năm 1963. Ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng từ 7-7-1954, ngày 23-10-1955, ông tổ chức trưng cầu dân ý, lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại (lúc đó đang ở Pháp) và làm Quốc Trưởng Việt Nam, sau đó trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa theo Hiến Pháp do Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo và ban hành ngày 26-10-1956.
- Năm Ất Mão (1975), Cộng Sản Miền Bắc sau khi ký hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, đã không tôn trọng lời cam kết, xua quân đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Mỹ rút lui khỏi Việt Nam và không tiếp tục viện trợ quân sự, vũ khí cho Việt Nam. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và bỏ trốn khỏi nước, trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Trần Văn Hương bất lực và trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh. Hiến Pháp đương nhiên bị xé bỏ vì sự trao quyền nầy là bất hợp hiến, hoàn toàn không dựa trên một điều khoản nào theo Hiến Pháp đã quy định. Sau khi lên làm Tổng Thống VNCH, Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng Cộng Sản. Hàng triệu người đã phục vụ dưới lá cờ VNCH trong đó gồm có binh sĩ, sĩ quan, cán bộ, công chức, các thành phần chính trị, tôn giáo, dân cử, báo chí v.v. đã bị bắt đi tù trong các trại tập trung của Cộng Sản VN gọi là trại Cải Tạo. Hàng triệu người vượt biên, đa số đã chết trên rừng, trên biển, một số sống sót hiện định cư ở ngoại quốc, đa số tại Hoa Kỳ. Cuộc chiến đấu đòi hỏi quyền tự do tôn giáo, tự do chính trị và quyền con người cho Việt Nam hiện đang tiếp tục ở trong nước và ở hải ngoại.
- Năm Đinh Mão (1987), do sự can thiệp của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, vào dịp 2 tháng 9-1987 và Tết Mậu Thìn, 1988, Cộng Sản Việt Nam đã trả tự do cho một số tù chính trị quan trọng và sau đó đã lập thủ tục cho họ được định cư tại Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn chính trị (HO).
- Năm Kỷ Mão (1999), một chu kỳ 60 năm kể từ 1939, năm bắt đầu thế giới chiến tranh lần thứ hai cho đến nay, nước Việt Nam và dân tộc chúng ta đã trải qua biết bao biến cố đau thương, hàng triệu người bị chết một cách thê thảm trong chiến tranh, trong hận thù giữa Cộng Sản và Quốc Gia; biết bao người mang thương tích, những gia đình tan nát, những trẻ em mồ côi, những góa phụ v.v. những người mất quê hương, nhà cửa, ruộng vườn, bỏ cả tài sản, bỏ lại mồ mả tổ tiên, bỏ lại người thân để ra đi tìm tự do…. Cả một dân tộc đang phải sống dưới cảnh áp bức, bất công, nghèo đói, lầm than…
- Năm Tân Mão (2011) Như đã nói ở trên: năm Tân Mão (2011) sắp đến là năm mà các nhóm tín đồ của các tôn giáo trong nước cũng như hải ngoại tiên đoán sẽ là năm đại họa cho dân tộc Việt Nam và nhân loại. Từ năm 1945, sau khi cướp được chính quyền tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và bọn đàn em đã theo lệnh Cộng Sản Nga và Cộng Sản Tàu, chủ trương gây ra một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, tiêu diệt những người yêu nước không Cộng Sản và tu sĩ, tín đồ các tôn giáo, hy sinh hàng triệu đồng bào… đi vay súng đạn, quân trang, quân dụng, lương thực, tiền bạc… để thực hiện cho được chế độ Cộng Sản độc tài tồn trị trên đất nước Việt Nam và chúng đã thành công trong việc cưỡng chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975. Bây giờ chúng bắt dân tộc Việt Nam, đồng bào Việt Nam phải trả nợ cho Trung Cộng. Vì thế hiện nay trong nước cũng như hải ngoại đều rộ lên những phong trào chống đối việc dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng; chống việc cướp đi sự sống của dân bằng cách cho Trung Cộng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, làm ngơ trước những hành động xâm lăng, gây hấn, đối xử bất công với ngư dân Việt Nam của Trung Cộng, những hành vi buôn lậu, đưa hàng giả của Trung Cộng vào lũng đoạn nên kinh tế quốc dân VN,v.v… Việc Cộng Sản đàn áp tín đồ, tịch thu cơ sở thờ tự, trường học, bệnh viện, cơ sở từ thiện… của các tôn giáo để biến thành cơ sở kinh doanh buôn bán làm giàu cho một số đảng viên cao cấp đang nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền… Một xã hội thối nát, bất công như thế chắc chắn đang trên bờ vực thẳm.
Chúng ta chờ đợi năm mới Tân Mão đến với tình hình căng thẳng ở biển Đông do Trung Cộng thao túng, với sự thách thức của Mỹ, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Việt Nam và các nước trong khu vực đối đầu với Trung Cộng…
Liệu biến cố gì sẽ xảy ra trong tương lai?
Nguyễn Lý Tưởng
Tuesday, March 15, 2011
Thursday, March 10, 2011
Wednesday, February 2, 2011
Tuesday, February 1, 2011
Thursday, January 6, 2011
Watch 200 years of history in 4 minutes
Thu Jan 6, 10:40 am ET
By Liz Goodwin
We just stumbled on this BBC video of a very enthusiastic Dr. Hans Rosling explaining the past 200 years of world progress in only four minutes using a fascinating graph.
You can check it out below:
By Liz Goodwin
We just stumbled on this BBC video of a very enthusiastic Dr. Hans Rosling explaining the past 200 years of world progress in only four minutes using a fascinating graph.
You can check it out below:
Sunday, January 2, 2011
Thêm một giáo sư giả bị lộ tẩy
Thêm một giáo sư giả bị lộ tẩy
Posted on 31.12.2010 by giaithecs

Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an
Thời gian vừa qua, mọi người đã biết đến các giáo sư giả Nguyễn Chí Vịnh (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Phạm Minh Chính (Thứ trưởng Bộ Công an) qua sự cáo giác của những người yêu nước chân chính. Hẳn các bạn sẽ tự hỏi liệu rằng, trong danh sách đặc cách giáo sư, một thứ quái đản của nền khoa học Việt Nam có còn ai nữa không? Xin thưa vẫn còn, đó là Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an.
Với Bùi Văn Nam thì mọi người ít được biết đến bởi ông ta trưởng thành từ tình báo. Có thể khẳng định rằng, Bùi Văn Nam là ví dụ điển hình của chủ nghĩa cơ hội. Bùi Văn Nam nịnh khéo, nịnh giỏi và nịnh bất kỳ người nào cần thiết cho con đường công danh của ông ta. Khi còn làm Tổng cục trưởng Tổng cục V, Bùi Văn Nam đã được anh em cảnh vệ đặt tên là Nam “chực”, vì thường xuyên lỳ mặt, ăn cơm chực ở nhà đồng chí Bộ trưởng. Nhưng Bùi Văn Nam cũng quên rất nhanh, khi đã đạt được mục đích thì sẵn sàng gạt bỏ những người đã từng cưu mang, giúp đỡ nếu ông ta cảm thấy cản trở, gây khó khăn cho sự phát triển của mình. Việc này, mọi người có thể hỏi đồng chí Sỹ, đ/c Bình (Tổng cục trưởng Tổng cục V đã nghỉ hưu) thì sẽ hiểu rõ.
Việc Bùi Văn Nam tìm cách kiếm bằng được cái danh xưng giáo sư thông qua hình thức đặc cách của cái gọi là khoa học tình báo mà mọi người vẫn gọi là “giáo sư giả” là để đánh bóng hình ảnh bản thân. Ông Nam sinh năm 1955, quá 01 tuổi đối với những người Trung ương Đảng đợt đầu.. Mặt khác, Bùi Văn Nam cũng đang ra sức chạy vào vị trí Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ thay ông Nguyễn Xuân Phúc. Do uy tín kém, trình độ vừa phải lại thừa một tuổi nên Bùi Văn Nam lo không trúng vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Vì vậy, Bùi Văn Nam đang quyết tâm có bằng được học vị giáo sư, tiến sỹ, kể cả là “giáo sư giả” để lấy điểm.
Tuy nhiên, Bùi Văn Nam không thể hiểu được rằng, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, những thông tin về việc ông Nam đang tự kiếm cho mình cái danh xưng hão “giáo sư giả” của một môn khoa học không tồn tại là khoa học tình báo đã và đang lan truyền rộng rãi trong dư luận lãnh đạo cao cấp.
Những ứng xử đầy chất cơ hội, đặc trưng của chủ nghĩa cơ hội của ông Nam đã bị vạch rõ, lột trần.Chính ông tự đào mồ chôn sự nghiệp của ông. Nếu không, chúng tôi những người yêu nước, cán bộ công an thực thụ cũng sẽ quyết tâm vạch trần đưa ông ra ánh sáng của công lý./.
Lê Minh Viên – Tổng cục V – Bộ Công an
————
Chuyện của tướng Bùi Nam và Phạm Minh Chính
Mùa thu, năm Canh dần, thành Thăng Long xảy ra chuyện động trời. Có hai vị tướng ở Bộ Hình tên Nam, họ Bùi và tên Chính, họ Phạm sau khi thấy dân ở trấn Bình Dương lập tượng “Nobel toán học”, giáo sư Ngô Bảo Châu liền quyết định cũng là giáo sư, hy vọng sẽ được hiển thánh lập tượng cho dù chưa bao giờ dám bước chân vào thi Đình, không bảng nhãn, cũng là trạng nguyên.
Viện cớ Tôn Vũ ở bên Tàu nói trong Binh pháp Tôn Tử rằng gián điệp là quan trọng, Nam, Chính tuyên bố lập ra khoa học tình báo cho dù mấy ngàn năm Đại Việt ta và cả nhân loại chưa từng có khoa học như thế. Tướng Nam, Chính ra lệnh thuộc cấp, triệu hồi mấy vị quan văn, chưa đọc thuộc kinh thư, thống nhất phán rằng, tướng Nam, Chính tuy ít học, chưa thi Đình, những cũng đã đọc kinh thư, thuộc lòng kinh tam tạng, xứng đáng đặc cách giáo sư, làm quan đại thần.
Phó tể tướng Nguyễn Thiện Nhân, phụ trách bộ Lễ biết chuyện thất kinh, nói rằng sao làm giáo sư dễ vậy, ngang kẻ thất phu, ngồi đọc kinh tam tạng sao. Nhưng thấy rằng bộ Hình rất mạnh; sợ tướng Nam, tướng Chính cử người đi điều tra việc tham nhũng việc xuất bản kinh thư, chạy điểm trong kỳ thi Hương… báo cáo lên vua Nông Đức Mạnh và tể tướng Nguyễn Tấn Dũng thì chức phó tể tướng khó bề giữ được. Phó tể tướng Nguyễn Thiện Nhân đành ngậm hột thị, cho qua.
Sỹ phu Đại Việt bàn tán xôn xao lắm. Từ trấn Gia Định đến thành Thăng Long đâu đâu cũng bàn chuyện này. Nhiều sỹ phu nói rằng, cần phải tấu trình lên vua Nông Đức Mạnh cách chức tướng Nam, tướng Chính, đuổi về quê để học lại kinh thư, học lê dân về đạo đức làm người, như quan tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn An tấu trình chém 7 tên nịnh thần đời nhà Trần. Nhiều sỹ phu lại can rằng, chưa nên, chưa nên bởi cái mã chẳng làm nên con người, hay để chuyện tướng Nam, tướng Chính đặc cách giáo sư làm trò vui cho sỹ phu ta. Nếu không có thì sỹ phu ta chẳng buồn lắm ru.
Lời bình của sử gia Lê Chưa Hưu: Đại Việt ta có lúc suy, lúc thịnh, nhưng đời nào cũng coi trọng người thầy; tôn vinh sỹ phu. Cớ sao hai kẻ thất phu ở Bộ Hình cậy quyền, cậy thế tự phong cho mình làm giáo sư, làm thầy. Mệnh quan triều đình mà như thế thì làm sao an dân. Ai cũng như Nam, Chính thì triều đại nhà Hồ ta suy vong mất. Cần phải diệt trừ tận gốc, lột áo, đầy ra biên ải để suy ngẫm đạo của sỹ phu, đạo của làm người./.
Lê Minh Viên – Tổng cục V – Bộ Công an
Bài viết do Vinh Ha gửi đến.
Filed under: CHÍNH TRỊ
« BAO GIỜ ! Nỗi lòng người dân »
Like
Be the first to like this post.
3 phản hồi
Thêm một giáo sư giả bị lộ tẩy | Dinhtan's Blog, on 31.12.2010 at 3:19 sáng said:
[...] Posted on 31.12.2010 by giaithecs [...]
Trả lời
hoang van, on 31.12.2010 at 6:47 chiều said:
Ở Việt nam lên tướng còn nhanh hơn lên uý lên tướng 2 năm 2 cấp trong khi lên uý 4 năm 1 cấp, trong học vấn cũng vậy nọc hệ phổ thông mất 12 năm nhưng học để lấy bằng giáo sư của các vị này chắc mất 12 tiếng…. Trên thế giới có lẽ chỉ có Việt nam mới có ngành khoa học Công an và có duy nhất Việt nam có cái bằng Giáo sư Công an…. cho các vị này….Âu cũng là thời kỳ loạn lạc kẻ ngu dốt làm quan….
Trả lời
nguyen thanh ha, on 01.01.2011 at 11:23 sáng said:
Ở Việt nam có một nghịch lý là có người làm công an trang thủ đi xem bói cúng bái cho mấy anh trưởng phó quận mà được lên làm Chánh văn phòng của Công an quận …. Có anh mang xong nồi bát đĩa đến cho sếp bỉng bủng đến cho người nhà sếp (vì nhà có siêu thị mà…) và được lên làm phó giám đốc Công an Hà nội nữa là vậy họ chạy bằng giả lên làm thứ trưởng là chuyện thường… trước cục trưởng cục này còn lật đổ được cả bộ trưởng để giàng ngôi cơ…
Posted on 31.12.2010 by giaithecs

Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an
Thời gian vừa qua, mọi người đã biết đến các giáo sư giả Nguyễn Chí Vịnh (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Phạm Minh Chính (Thứ trưởng Bộ Công an) qua sự cáo giác của những người yêu nước chân chính. Hẳn các bạn sẽ tự hỏi liệu rằng, trong danh sách đặc cách giáo sư, một thứ quái đản của nền khoa học Việt Nam có còn ai nữa không? Xin thưa vẫn còn, đó là Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an.
Với Bùi Văn Nam thì mọi người ít được biết đến bởi ông ta trưởng thành từ tình báo. Có thể khẳng định rằng, Bùi Văn Nam là ví dụ điển hình của chủ nghĩa cơ hội. Bùi Văn Nam nịnh khéo, nịnh giỏi và nịnh bất kỳ người nào cần thiết cho con đường công danh của ông ta. Khi còn làm Tổng cục trưởng Tổng cục V, Bùi Văn Nam đã được anh em cảnh vệ đặt tên là Nam “chực”, vì thường xuyên lỳ mặt, ăn cơm chực ở nhà đồng chí Bộ trưởng. Nhưng Bùi Văn Nam cũng quên rất nhanh, khi đã đạt được mục đích thì sẵn sàng gạt bỏ những người đã từng cưu mang, giúp đỡ nếu ông ta cảm thấy cản trở, gây khó khăn cho sự phát triển của mình. Việc này, mọi người có thể hỏi đồng chí Sỹ, đ/c Bình (Tổng cục trưởng Tổng cục V đã nghỉ hưu) thì sẽ hiểu rõ.
Việc Bùi Văn Nam tìm cách kiếm bằng được cái danh xưng giáo sư thông qua hình thức đặc cách của cái gọi là khoa học tình báo mà mọi người vẫn gọi là “giáo sư giả” là để đánh bóng hình ảnh bản thân. Ông Nam sinh năm 1955, quá 01 tuổi đối với những người Trung ương Đảng đợt đầu.. Mặt khác, Bùi Văn Nam cũng đang ra sức chạy vào vị trí Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ thay ông Nguyễn Xuân Phúc. Do uy tín kém, trình độ vừa phải lại thừa một tuổi nên Bùi Văn Nam lo không trúng vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Vì vậy, Bùi Văn Nam đang quyết tâm có bằng được học vị giáo sư, tiến sỹ, kể cả là “giáo sư giả” để lấy điểm.
Tuy nhiên, Bùi Văn Nam không thể hiểu được rằng, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, những thông tin về việc ông Nam đang tự kiếm cho mình cái danh xưng hão “giáo sư giả” của một môn khoa học không tồn tại là khoa học tình báo đã và đang lan truyền rộng rãi trong dư luận lãnh đạo cao cấp.
Những ứng xử đầy chất cơ hội, đặc trưng của chủ nghĩa cơ hội của ông Nam đã bị vạch rõ, lột trần.Chính ông tự đào mồ chôn sự nghiệp của ông. Nếu không, chúng tôi những người yêu nước, cán bộ công an thực thụ cũng sẽ quyết tâm vạch trần đưa ông ra ánh sáng của công lý./.
Lê Minh Viên – Tổng cục V – Bộ Công an
————
Chuyện của tướng Bùi Nam và Phạm Minh Chính
Mùa thu, năm Canh dần, thành Thăng Long xảy ra chuyện động trời. Có hai vị tướng ở Bộ Hình tên Nam, họ Bùi và tên Chính, họ Phạm sau khi thấy dân ở trấn Bình Dương lập tượng “Nobel toán học”, giáo sư Ngô Bảo Châu liền quyết định cũng là giáo sư, hy vọng sẽ được hiển thánh lập tượng cho dù chưa bao giờ dám bước chân vào thi Đình, không bảng nhãn, cũng là trạng nguyên.
Viện cớ Tôn Vũ ở bên Tàu nói trong Binh pháp Tôn Tử rằng gián điệp là quan trọng, Nam, Chính tuyên bố lập ra khoa học tình báo cho dù mấy ngàn năm Đại Việt ta và cả nhân loại chưa từng có khoa học như thế. Tướng Nam, Chính ra lệnh thuộc cấp, triệu hồi mấy vị quan văn, chưa đọc thuộc kinh thư, thống nhất phán rằng, tướng Nam, Chính tuy ít học, chưa thi Đình, những cũng đã đọc kinh thư, thuộc lòng kinh tam tạng, xứng đáng đặc cách giáo sư, làm quan đại thần.
Phó tể tướng Nguyễn Thiện Nhân, phụ trách bộ Lễ biết chuyện thất kinh, nói rằng sao làm giáo sư dễ vậy, ngang kẻ thất phu, ngồi đọc kinh tam tạng sao. Nhưng thấy rằng bộ Hình rất mạnh; sợ tướng Nam, tướng Chính cử người đi điều tra việc tham nhũng việc xuất bản kinh thư, chạy điểm trong kỳ thi Hương… báo cáo lên vua Nông Đức Mạnh và tể tướng Nguyễn Tấn Dũng thì chức phó tể tướng khó bề giữ được. Phó tể tướng Nguyễn Thiện Nhân đành ngậm hột thị, cho qua.
Sỹ phu Đại Việt bàn tán xôn xao lắm. Từ trấn Gia Định đến thành Thăng Long đâu đâu cũng bàn chuyện này. Nhiều sỹ phu nói rằng, cần phải tấu trình lên vua Nông Đức Mạnh cách chức tướng Nam, tướng Chính, đuổi về quê để học lại kinh thư, học lê dân về đạo đức làm người, như quan tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn An tấu trình chém 7 tên nịnh thần đời nhà Trần. Nhiều sỹ phu lại can rằng, chưa nên, chưa nên bởi cái mã chẳng làm nên con người, hay để chuyện tướng Nam, tướng Chính đặc cách giáo sư làm trò vui cho sỹ phu ta. Nếu không có thì sỹ phu ta chẳng buồn lắm ru.
Lời bình của sử gia Lê Chưa Hưu: Đại Việt ta có lúc suy, lúc thịnh, nhưng đời nào cũng coi trọng người thầy; tôn vinh sỹ phu. Cớ sao hai kẻ thất phu ở Bộ Hình cậy quyền, cậy thế tự phong cho mình làm giáo sư, làm thầy. Mệnh quan triều đình mà như thế thì làm sao an dân. Ai cũng như Nam, Chính thì triều đại nhà Hồ ta suy vong mất. Cần phải diệt trừ tận gốc, lột áo, đầy ra biên ải để suy ngẫm đạo của sỹ phu, đạo của làm người./.
Lê Minh Viên – Tổng cục V – Bộ Công an
Bài viết do Vinh Ha gửi đến.
Filed under: CHÍNH TRỊ
« BAO GIỜ ! Nỗi lòng người dân »
Like
Be the first to like this post.
3 phản hồi
Thêm một giáo sư giả bị lộ tẩy | Dinhtan's Blog, on 31.12.2010 at 3:19 sáng said:
[...] Posted on 31.12.2010 by giaithecs [...]
Trả lời
hoang van, on 31.12.2010 at 6:47 chiều said:
Ở Việt nam lên tướng còn nhanh hơn lên uý lên tướng 2 năm 2 cấp trong khi lên uý 4 năm 1 cấp, trong học vấn cũng vậy nọc hệ phổ thông mất 12 năm nhưng học để lấy bằng giáo sư của các vị này chắc mất 12 tiếng…. Trên thế giới có lẽ chỉ có Việt nam mới có ngành khoa học Công an và có duy nhất Việt nam có cái bằng Giáo sư Công an…. cho các vị này….Âu cũng là thời kỳ loạn lạc kẻ ngu dốt làm quan….
Trả lời
nguyen thanh ha, on 01.01.2011 at 11:23 sáng said:
Ở Việt nam có một nghịch lý là có người làm công an trang thủ đi xem bói cúng bái cho mấy anh trưởng phó quận mà được lên làm Chánh văn phòng của Công an quận …. Có anh mang xong nồi bát đĩa đến cho sếp bỉng bủng đến cho người nhà sếp (vì nhà có siêu thị mà…) và được lên làm phó giám đốc Công an Hà nội nữa là vậy họ chạy bằng giả lên làm thứ trưởng là chuyện thường… trước cục trưởng cục này còn lật đổ được cả bộ trưởng để giàng ngôi cơ…
Saturday, January 1, 2011
THU NGO CUA LM HUYNH CONG MINH (SG)
THU NGO CUA LM HUYNH CONG MINH (SG)
Monday, 28. January 2008, 05:24
ĐỌC THƯ NGỎ
CỦA LM HUỲNH CÔNG MINH
Lê Thiên
Đôi lời minh xác: Mặc dầu Diễn Đàn Giáo Dân số 72 Tháng 11/2007, trong bài Vài Vấn Nạn Cần Khai Thông, đã đề cập tới Thư Ngỏ của linh mục Huỳnh Công Minh, chúng tôi vẫn xin được góp thêm vài cảm nghĩ. Khổng Tử dạy:"Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã - Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, ấy là người biết”. Qua bài học đó, chúng tôi tự nhủ mình chớ nên luận bàn về một vấn đề mình không nắm vững, nên thận trọng đắn đo nêu ra những nhận định của một số thức giả trong nước để công luận phán xét và bổ khuyết những sai sót.
Người Công giáo Miền Nam Việt Nam hầu như ai cũng nghe danh linh mục Huỳnh Công Minh. Trên “chính trường” Cộng sản Việt Nam từ sau 30/4/1975, linh mục Minh cũng được nhiều người nghe biết và đánh giá. Vừa rồi, người ta lại đọc được Thư Ngỏ của linh mục Minh bàn về giáo dục (?) trình bày trang trọng nơi trang đầu Tuần san Công Giáo & Dân Tộc số 1625 từ ngày 21/9 đến 27/9/2007 phát hành tại Sài Gòn.
Nguyên bản và nguyên tác thư ngỏ như sau:
- Linh mục Tổng Đại diện của Đức hồng y Tổng Giám mục;
- Nguyên Đại biểu Quốc hội Khóa 6 và 7;
- Nguyên Phó Chủ tịch UBĐKCG Trung ương;
- Phụ trách báo Người Công giáo Việt Nam.
Hàng loạt chức danh quan trọng cả đạo lẫn đời được hài ra hẳn phải có một dụng ý sâu xa hay ít ra có ý làm tăng sức thuyết phục? Dụng ý như thế nào chẳng ai lý giải nổi ngoài tác giả của Thư Ngỏ, nên ở đây xin chỉ bàn tới nội dung thư mà thôi.
Thư Ngỏ đề nghị thay thế cụm tự “đánh giá” trong chủ trương “trò đánh giá thầy” của Bộ Giáo dục bằng một từ khác, nhưng linh mục lại “quên” bảo phải thay thế bằng từ gì, cụm từ gì. Thực ra, những cụm từ như “đánh giá”, “chấm điểm” hay “nhận xét”… cũng đều là những kiểu nói cho một vấn đề, vấn đề giáo dục. Nội dung vấn đề mới là điều cần “ngỏ” với những người có trách nhiệm, không hiểu tại sao tác giả Thư Ngỏ lại lờ đi rồi lái về một hướng khác – NƯỚC MỸ và nền GIÁO DỤC của Mỹ?
Linh mục Minh cả quyết: “nền giáo dục của Hoa Kỳ chưa hề được thế giới văn minh xem là mẫu gương (chính một số những người Mỹ có học thức và lương tri cũng thú nhận rằng nhà trường của họ không dạy học sinh làm người, biết phân biệt thiện ác, phải trái, tốt xấu, mà chỉ dạy cách thế để kiếm được thật nhiều tiền và hưởng thụ cá nhân)”.
Nghe ghê thật!
Linh mục Minh lấy dữ kiện từ kho tài liệu nào để chứng minh sự thú nhận (?) của những kẻ mà linh mục cho là “những người Mỹ có học thức và lương tri”? Có thể có những bậc thức giả người Mỹ phê phán một khía cạnh bất cập nào đó còn tồn tại trong nền giáo dục (cũng như trong các lãnh vực khác) của đất nước họ. Và đó là nét son của nền dân chủ Mỹ; quyền tự do ngôn luận, quyền tư do phát biểu quan điểm được tôn trọng. Nhưng làm sao có thể đoan quyết rằng một người nào đó qua phát biểu của họ chứng minh họ là người có lương tri? Và điển hình là những nhân vật nào, không thấy lm Minh nêu tên?
Qua Thư ngỏ, tôi có thể đoán linh mục là người có học thức do những chức-vụ to lớn cả đạo lẫn đời linh mục đã trưng ra. Nhưng nếu ai bảo tôi dựa vào đó mà nhận định về lương tri của linh mục, tôi chào thua.
Tôi lại không có cơ hội đọc nhiều, nghiên cứu sâu như linh mục để quả quyết như linh mục rằng “nền giáo dục của Hoa Kỳ chưa hề được thế giới văn minh xem là mẫu gương”. Bù lại, tôi đề nghị linh mục Minh đọc bài “Giáo dục Mỹ vẫn dẫn đầu” do Lê Hà viết trên Dân Trí (www1.dantri.com.vn) ngày 14/9/2007.
Xin trích dẫn một đoạn của bài viết trên:
“Chất lượng giáo dục của Mỹ đã được minh chứng bằng việc sau sự cố 11/9, số lượng học viên nước ngoài xin nhập học tại các trường của Mỹ sụt giảm, nhưng chỉ không lâu sau đó, Mỹ vẫn là lựa chọn của nhiều sinh viên quốc tế…” Bài viết này đến những ngày cuối tháng 11/2007 vẫn còn thấy các báo trong nước sao in lại.
Một tác giả khác cũng ở trong nước (Ngô Tự Lập, Diễn đàn Doanh nghiệp 07/02/2006) đã quả quyết: “Giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới. Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất”.
Lại theo báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ngày 26/10/2007, trong cuộc hội thảo “Phát triển giáo dục so sánh tại VN” tổ chức tại Sài Gòn vào tháng năm 2007, một giáo sư tiến sĩ khoa học trong tham luận của mình cho rằng “mô hình Hoa Kỳ như là chọn lựa chính thức cho giáo dục Việt Nam”. Bài tham luận tiếp theo đó lại giới thiệu “Những giá trị của kinh nghiệm GDĐH Hoa Kỳ đối với GDĐH nước ta trong thời kỳ mới”. Trong đó “diễn giả cũng đề cập những ưu điểm khác của mô hình giáo dục Hoa Kỳ như: phi tập trung, dân chủ, thực tiễn, đại chúng”.
Như vậy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do đảng Cộng sản nắm quyền hiện nay có coi trọng nền giáo dục Mỹ hay không chứ đừng nói làm gì đến cái thế giới nào khác ở đâu đâu. Linh mục Minh cứ hỏi xem các quan chức lớn nhỏ có đua nhau đưa con cháu mình đi học Mỹ không, rồi hẵng bảo: “Nhà trường của họ [của Mỹ] không dạy học sinh làm người, biết phân biệt thiện ác, phải trái, tốt xấu”.
Hay là vì thấy phong trào sinh viên Việt Nam du học Mỹ nở rộ, linh mục muốn chứng tỏ mình “bảo hoàng hơn vua”, đứng về phía những người Cộng sản cực tả kiểu Lê Đức Thọ trước đây để ngăn chặn lớp trẻ du học Mỹ? Sợ giới trẻ học xong trở về nước lật tẩy linh mục và những cán bộ đảng viên giống như linh mục chăng? Hay sợ họ tiến bộ trở về canh tân đất nước theo hướng dân chủ khiến lớp thủ cựu giáo điều như linh mục mất đất dụng võ?
Tâm lý sợ hãi này xem ra không phải không có cơ sở! Theo báo Tiền Phong ngày 14/11/2007, hiện nay sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ đạt con số kỷ lục. Tờ báo ghi nhận: “Số lượng sinh viên Việt Nam du học tại các trường đại học Hoa Kỳ đã tăng thêm 31,3%, đạt 6.036 người trong niên học 2006 - 2007. Đây là con số thống kê mới nhất trong báo cáo thường niên ‘Open Doors 2007’ vừa được công bố”. Bài báo cũng nêu rõ: “Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 20 trong số các quốc gia trên toàn thế giới có số sinh viên du học tại Hoa Kỳ nhiều nhất”. Bên cạnh đó người ta cũng nhắc lại lời tân đại sứ Mỹ ở Hà Nội, Michael Michalak, nói ông hy vọng sau 20 năm nữa, người Mỹ có thể thấy “75% thành viên chính phủ Việt Nam tốt nghiệp tại Mỹ”!
Như vậy chẳng nguy hiểm lắm sao cho chế độ hiện hữu tại Việt Nam mà linh mục Huỳnh Công Minh đang phụng sự? Và lẽ nào không nguy cho vị thế hiện nay và tương lai của một số cán bộ cỡ như linh mục?
Linh mục chắc biết Phạm Xuân Ẩn chứ? Tay gián điệp Cộng sản nằm vùng ở Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, sau 1975 được phong tới cấp tướng Cộng sản. Thế mà mãi đến năm 1996, ông ta vẫn còn thèm cho đứa con trai mình (Phạm Xuân Hoàng Ân) đi học Mỹ (ước mơ lớn nhất của ông), dù cậu ấy đã được “cho đi học” 5 năm ở Nga (từ năm 1983) và đạt bằng cấp cao. Ẩn không ngần ngại nói: “Ít nhất thì tôi cũng muốn các con tôi được sang Mỹ để học tập” [1]. Còn Phạm Xuân Hoàng Ân (con trai của Ẩn) trong bài luận văn kèm theo đơn xin học Trường Đại học North Carolina, Hoa Kỳ, cũng viết: “Tôi ước mong có thể được sang Mỹ học tập… để tiếp thu những tinh hoa của xã hội Mỹ. Sau đó, khi trở về nước, tôi có thể nói với nhân dân tôi về văn hóa, lịch sử và con người, cũng như những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ của một siêu cường tiên tiến này”[2].
Cuối năm 1990, Phạm Xuân Hoàng Ân được nhận vào học Trường Đại học North Carolina cho đến năm 1993. Rồi năm 1999, Ân lại giành được học bổng Fulbright để đi Mỹ một lần nữa, vào học luật tại Trường Đại học Duke (cũng ở North Carolina, USA).
Phạm Xuân Ẩn mãn nguyện ra đi thanh thản vì giấc mơ ông ôm ấp từ bao chục năm qua đã thành hiện thực, nó vượt cao hơn cái mà người ta gọi thành tích gián điệp của ông trong hơn thập niên trước 1975: Con ông được học và tốt nghiệp từ nhà trường Mỹ.
Linh mục Huỳnh Công Minh lại lý luận rằng cụm từ “trò đánh giá thầy” là cụm từ “rất HÀM HỒ, dễ gây hiểu sai, hiểu lệch một cách vô cùng tai hại, nhất là nó được hiểu theo kiểu làm của Mỹ ‘trò chấm điểm thầy’. Khi trò chấm điểm thầy được, thì con cái cũng sẽ chấm điểm cha mẹ; và khi đã chấm điểm được, thì cũng tố cáo được, lên án được (ở Mỹ người ta dạy trẻ con gọi điện cho cảnh sát đến bắt cha mẹ, khi cha mẹ dạy con không đúng cách (dung roi vọt chẳng hạn)”. Rồi từ lý luận trên, linh mục Minh đi tới kết luận: “con cái tố cha mẹ thì còn gì gia đình nữa!”
Không biết cụm từ “trò đánh giá thầy’ có HÀM HỒ như linh mục Minh nhận xét không? Hay là linh mục “hiểu sai, hiểu lệch một cách tai hại” về một phương thức giáo dục của nước khác? Và sao linh mục không hiến kế để có một cụm từ khác không hàm hồ?
Ở Việt Nam, thiếu gì trường hợp những bà mẹ ông cha đánh con, trấn nước con, bóp cổ con cho đến chết. Thiếu gì những vụ chồng đánh đập vợ, nếu không gây thiệt mạng thì cũng gây thương tật tâm thần hay thể xác. Thiếu gì những bậc thầy cô thay vì làm nhà mô phạm lại đóng vai công an tra tấn học sinh mình, nhục mạ hay dùng vũ lực trừng phạt chúng như trừng trị một con thú! Những chuyện như vậy có xảy ra ở Việt Nam không hay chỉ có ở Mỹ? Tỉ lệ đối xử tồi tệ ấy ở Việt nam hiện nay ra sao?
Linh mục Minh nghĩ thế nào nếu có ai đó hỏi linh mục như đã hỏi TS Xã hội học Trịnh Hòa Bình trong một cuộc phỏng vấn mà báo Thời Sự trong nước đã ghi lại ngày 18/4/2007: "Hàng loạt vụ việc như thầy giáo bắt học trò quì đất bò quanh lớp, bắt học trò liếm ghế, giựt tóc học trò hay chuyển học trò cho công an xã hỏi cũng chỉ vì nghi ngờ học trò lấy chưa đầy 50 ngàn, thậm chí chuyện thầy giáo gạ tình... nối tiếp nhau xuất hiện trên báo chí. Nếu bàn về mức độ của vấn đề này, ông có thể nói gì?" Linh mục sẽ trả lời thế nào?
Ở Việt Nam chưa có chuyện trò đánh giá thầy hay con trẻ gọi điện báo cảnh sát, phải không?
Mời linh mục Minh đọc Dân Trí ngày 31/10/2007, xem nó nói gì trong bài báo Khi Thầy Giáo Thành ‘Thầy Kiện’? “Ông Hiệu trưởng cũng đưa bản nhận xét của sinh viên trong khoa gửi lên Ban giám hiệu. Trong đó nhiều sinh viên đã phải bức xúc kêu lên: Việc giảng dạy của giáo viên khoa T.A đặc biệt lạc hậu... Các thầy cô của khoa đều thiếu trách nhiệm, giờ giải lao ra chơi gần hết một tiết học, giờ học trong lớp không hiệu quả, giảng sai, không cập nhật thông tin, thiếu sáng tạo...
“Còn tại ĐH B, thầy T - trưởng khoa H.M năm 2005 bị sinh viên đồng loạt khiếu nại lên nhà trường về việc thầy ăn chặn tiền của sinh viên với nhân chứng vật chứng không thể chối cãi… “
Hơn nữa, những chuyện con cái tố cha mẹ, vợ chồng tố lẫn nhau lừng danh một thời ở Việt Nam đâu phải là hệ quả của “trò chấm điểm thầy”, “trẻ con gọi điện cảnh sát”. Chẳng phải chỉ có tố hay lên án mà còn đấu nữa! Đấu tố, xỉa xói, nhục mạ, kết án và hành hạ tới chết! Thậm chí người ta còn xúi cả những đứa con gái dựng chuyện tố cha mình hãm hiếp rồi đấu nạn nhân đến hộc máu mồm! Và vô số màn đấu tố dã man đại loại như vậy, đảo lộn luân thường đạo lý, kể không xiết! Những chuyện động trời ấy đâu phải ở Mỹ mà ở ngay trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa đấy! Những chuyện có thật trong lịch sử nước nhà như vậy có đáng hãnh diện gọi là “nét son của văn hóa truyền thống Việt Nam” như linh mục Minh rêu rao ở cuối Thư Ngỏ không?
Thư Ngỏ của linh mục Minh có nói lên được điều gì tích cực mới mẻ để giúp “giải phóng” nền giáo dục Việt Nam đang lâm vào bế tắc không hay chỉ có đả kích, gieo rắc hận thù và đố kỵ một cách vô trách nhiệm? E rằng ông Nguyễn Thiện Nhân đọc chưa xong thư ngỏ đã nghe thấy mùi thối mà quăng nó vào lửa hay vào sọt rác!
Khi phê phán và “hạ bệ’ nền giáo dục Mỹ với giọng hằn học rằng ““nhà trường của họ không dạy học sinh làm người, biết phân biệt thiện ác, phải trái, tốt xấu”, linh mục Minh có thật sự khách quan như Giao Ngọc Lê không khi ông này viết: “Nền giáo dục tại Việt Nam đang bị khủng hoảng. Lý thuyết giáo điều và lỗi thời chỉ cốt củng cố quyền lực của một Đảng Cộng sản suốt 62 năm qua đã tạo ra bao thảm họa khi chen chân với quốc tế. Sự thiếu tự do ngôn luận và nền thông tin một chiều càng làm tăng thêm nhiều dây trói cho cố gắng thúc đẩy suy luận và sáng kiến trong lúc khuyến khích thái độ vô trách nhiệm, tham nhũng, và vô đạo đức của lớp có quyền”[3].
Hay là linh mục muốn đóng vai trưởng ban “tuyên huấn” hoặc “văn hóa-tư tưởng” cố làm sống lại phong trào “bài Mỹ”? Không dễ gì lôi kéo giới trẻ Việt Nam ngày nay a dua vào bè như trước đây đâu!
Đề nghị linh mục thử chạy giấy đi du lịch Mỹ lại một lần nữa, sống ở Mỹ một thời gian dài hơn mà xem, nếu linh mục muốn bài Mỹ từ trong lòng nước Mỹ thì chắc chắn vừa dễ ăn to nói lớn vừa thuyết phục có hiệu quả hơn. Bởi vì như nhà báo Anh Gerard Baker, chuyên gia uy tín về kinh tế và chính trị trong làng báo quốc tế trong bài Nước Mĩ là thiên đường cho những kẻ chống Mĩ[4], đã viết: “Mĩ không chỉ nuôi dưỡng những kẻ bài Mĩ ồn ào và to mồm nhất mà còn cung cấp một chỗ ở an toàn cho những người đến Mĩ chỉ với một mục đích duy nhất là kết án nó. Khi đi qua bất kì khu học xá nào ở Mĩ ta cũng nghe thấy tiếng ồn ào của hàng trăm ngôn ngữ, thoả sức chửi rủa tất cả những gì nước Mĩ đang làm, từ fast food cho đến quĩ đầu tư hedge-fund”[5].
Suốt hơn 30 năm qua, người Công giáo Việt Nam đau buồn ray rứt về một bộ phận nhỏ giáo sĩ cam phận “quốc doanh”. Quốc doanh là gì nếu không phải là món hàng, là sản phẩm, là công cụ kinh doanh của Nhà nước tập quyền? Tồi hơn là “nô bộc”!
Chẳng lẽ linh mục Huỳnh Công Minh đến lúc này vẫn chưa nhận ra thực tế tai hại của chủ nghĩa bưng bít và bới xấu đối phương khiến linh mục tiếp tục hăng say “chống Mỹ cứu nước”? Trong khi đó, biết bao điều “ích quốc lợi dân”, biết bao điều oan ức cho dân, tiếng dân nói không thấu tai cửa quyền, sao linh mục không có một lời ngỏ?
Đó là chưa kể tới dân quyền, nhân quyền, quyền dân chủ và quyền tự do ngôn luận vẫn còn bị chà đạp, có nghe linh mục “ngỏ” với ai bao giờ trong tư cách đại biểu quốc hội tới hai khóa - khóa 6, khóa 7? Rồi trong tư cách đứng đầu một tờ báo mệnh danh “báo Người Công giáo” cũng như tư cách Tổng đại diện của ĐHY (như linh mục đã nêu, chứ không phải là Tổng Đại diện của Tổng Giáo phận), linh mục có lần nào thẳng thắn bênh vực người đồng đạo bị ức hiếp chưa? Hay chỉ làm công cụ xua đuổi các Đấng đại diện Hội Thánh (vụ đuổi Đức Khâm sứ Henri Lemaitre thời kỳ sau 30/4/1975) ra khỏi cơ sở của Giáo Hội cùng nhiều hành vi lộng hành khác (trong Nhóm tứ nhân bang) đối với Giáo Hội và Giáo quyền mà báo chí đã nêu?
Ôi! Giá ở đầu Thư Ngỏ linh mục đừng kê khai cái chức “Tổng Đại diện của Đức Hồng Y Tổng Giám mục” thì tốt cho linh mục biết mấy! Dân có đạo cũng đỡ mặc cảm với người ngoài đạo! Và có lẽ hàng giáo sĩ Việt Nam cũng khỏi phải rầu vì một con sâu!
[1] Xem Larry Berman: Điệp viên hoàn hảo. Bản dịch tiếng Việt do NXB Thông Tấn năm 2007, trang 427.
[2] Như trên, trang 422.
[3] Giao Ngọc Lê: “Khủng hoảng giáo dục tại Việt Nam: Hệ quả của độc đảng, giáo điều và thiếu tự do ngôn luận”. Talawas ngày 27/10/2007.
4 Do Nguyên Trường dịch. Talawas 13/12/2007. Kiểu viết “I” (Mĩ) thay vì “Y” (Mỹ) là của Nguyên Trường.
5 Fast food - Đồ ăn được nấu đúng tiêu chuẩn để khách hàng ăn nhanh và gọn. Hedge-fund là một loại công ty đầu tư giống như công ty cổ phần sử dụng những phương pháp đầu tư may rủi cao để đạt lợi nhuận cao.
Monday, 28. January 2008, 05:24
ĐỌC THƯ NGỎ
CỦA LM HUỲNH CÔNG MINH
Lê Thiên
Đôi lời minh xác: Mặc dầu Diễn Đàn Giáo Dân số 72 Tháng 11/2007, trong bài Vài Vấn Nạn Cần Khai Thông, đã đề cập tới Thư Ngỏ của linh mục Huỳnh Công Minh, chúng tôi vẫn xin được góp thêm vài cảm nghĩ. Khổng Tử dạy:"Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã - Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, ấy là người biết”. Qua bài học đó, chúng tôi tự nhủ mình chớ nên luận bàn về một vấn đề mình không nắm vững, nên thận trọng đắn đo nêu ra những nhận định của một số thức giả trong nước để công luận phán xét và bổ khuyết những sai sót.
Người Công giáo Miền Nam Việt Nam hầu như ai cũng nghe danh linh mục Huỳnh Công Minh. Trên “chính trường” Cộng sản Việt Nam từ sau 30/4/1975, linh mục Minh cũng được nhiều người nghe biết và đánh giá. Vừa rồi, người ta lại đọc được Thư Ngỏ của linh mục Minh bàn về giáo dục (?) trình bày trang trọng nơi trang đầu Tuần san Công Giáo & Dân Tộc số 1625 từ ngày 21/9 đến 27/9/2007 phát hành tại Sài Gòn.
Nguyên bản và nguyên tác thư ngỏ như sau:
- Linh mục Tổng Đại diện của Đức hồng y Tổng Giám mục;
- Nguyên Đại biểu Quốc hội Khóa 6 và 7;
- Nguyên Phó Chủ tịch UBĐKCG Trung ương;
- Phụ trách báo Người Công giáo Việt Nam.
Hàng loạt chức danh quan trọng cả đạo lẫn đời được hài ra hẳn phải có một dụng ý sâu xa hay ít ra có ý làm tăng sức thuyết phục? Dụng ý như thế nào chẳng ai lý giải nổi ngoài tác giả của Thư Ngỏ, nên ở đây xin chỉ bàn tới nội dung thư mà thôi.
Thư Ngỏ đề nghị thay thế cụm tự “đánh giá” trong chủ trương “trò đánh giá thầy” của Bộ Giáo dục bằng một từ khác, nhưng linh mục lại “quên” bảo phải thay thế bằng từ gì, cụm từ gì. Thực ra, những cụm từ như “đánh giá”, “chấm điểm” hay “nhận xét”… cũng đều là những kiểu nói cho một vấn đề, vấn đề giáo dục. Nội dung vấn đề mới là điều cần “ngỏ” với những người có trách nhiệm, không hiểu tại sao tác giả Thư Ngỏ lại lờ đi rồi lái về một hướng khác – NƯỚC MỸ và nền GIÁO DỤC của Mỹ?
Linh mục Minh cả quyết: “nền giáo dục của Hoa Kỳ chưa hề được thế giới văn minh xem là mẫu gương (chính một số những người Mỹ có học thức và lương tri cũng thú nhận rằng nhà trường của họ không dạy học sinh làm người, biết phân biệt thiện ác, phải trái, tốt xấu, mà chỉ dạy cách thế để kiếm được thật nhiều tiền và hưởng thụ cá nhân)”.
Nghe ghê thật!
Linh mục Minh lấy dữ kiện từ kho tài liệu nào để chứng minh sự thú nhận (?) của những kẻ mà linh mục cho là “những người Mỹ có học thức và lương tri”? Có thể có những bậc thức giả người Mỹ phê phán một khía cạnh bất cập nào đó còn tồn tại trong nền giáo dục (cũng như trong các lãnh vực khác) của đất nước họ. Và đó là nét son của nền dân chủ Mỹ; quyền tự do ngôn luận, quyền tư do phát biểu quan điểm được tôn trọng. Nhưng làm sao có thể đoan quyết rằng một người nào đó qua phát biểu của họ chứng minh họ là người có lương tri? Và điển hình là những nhân vật nào, không thấy lm Minh nêu tên?
Qua Thư ngỏ, tôi có thể đoán linh mục là người có học thức do những chức-vụ to lớn cả đạo lẫn đời linh mục đã trưng ra. Nhưng nếu ai bảo tôi dựa vào đó mà nhận định về lương tri của linh mục, tôi chào thua.
Tôi lại không có cơ hội đọc nhiều, nghiên cứu sâu như linh mục để quả quyết như linh mục rằng “nền giáo dục của Hoa Kỳ chưa hề được thế giới văn minh xem là mẫu gương”. Bù lại, tôi đề nghị linh mục Minh đọc bài “Giáo dục Mỹ vẫn dẫn đầu” do Lê Hà viết trên Dân Trí (www1.dantri.com.vn) ngày 14/9/2007.
Xin trích dẫn một đoạn của bài viết trên:
“Chất lượng giáo dục của Mỹ đã được minh chứng bằng việc sau sự cố 11/9, số lượng học viên nước ngoài xin nhập học tại các trường của Mỹ sụt giảm, nhưng chỉ không lâu sau đó, Mỹ vẫn là lựa chọn của nhiều sinh viên quốc tế…” Bài viết này đến những ngày cuối tháng 11/2007 vẫn còn thấy các báo trong nước sao in lại.
Một tác giả khác cũng ở trong nước (Ngô Tự Lập, Diễn đàn Doanh nghiệp 07/02/2006) đã quả quyết: “Giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới. Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất”.
Lại theo báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ngày 26/10/2007, trong cuộc hội thảo “Phát triển giáo dục so sánh tại VN” tổ chức tại Sài Gòn vào tháng năm 2007, một giáo sư tiến sĩ khoa học trong tham luận của mình cho rằng “mô hình Hoa Kỳ như là chọn lựa chính thức cho giáo dục Việt Nam”. Bài tham luận tiếp theo đó lại giới thiệu “Những giá trị của kinh nghiệm GDĐH Hoa Kỳ đối với GDĐH nước ta trong thời kỳ mới”. Trong đó “diễn giả cũng đề cập những ưu điểm khác của mô hình giáo dục Hoa Kỳ như: phi tập trung, dân chủ, thực tiễn, đại chúng”.
Như vậy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do đảng Cộng sản nắm quyền hiện nay có coi trọng nền giáo dục Mỹ hay không chứ đừng nói làm gì đến cái thế giới nào khác ở đâu đâu. Linh mục Minh cứ hỏi xem các quan chức lớn nhỏ có đua nhau đưa con cháu mình đi học Mỹ không, rồi hẵng bảo: “Nhà trường của họ [của Mỹ] không dạy học sinh làm người, biết phân biệt thiện ác, phải trái, tốt xấu”.
Hay là vì thấy phong trào sinh viên Việt Nam du học Mỹ nở rộ, linh mục muốn chứng tỏ mình “bảo hoàng hơn vua”, đứng về phía những người Cộng sản cực tả kiểu Lê Đức Thọ trước đây để ngăn chặn lớp trẻ du học Mỹ? Sợ giới trẻ học xong trở về nước lật tẩy linh mục và những cán bộ đảng viên giống như linh mục chăng? Hay sợ họ tiến bộ trở về canh tân đất nước theo hướng dân chủ khiến lớp thủ cựu giáo điều như linh mục mất đất dụng võ?
Tâm lý sợ hãi này xem ra không phải không có cơ sở! Theo báo Tiền Phong ngày 14/11/2007, hiện nay sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ đạt con số kỷ lục. Tờ báo ghi nhận: “Số lượng sinh viên Việt Nam du học tại các trường đại học Hoa Kỳ đã tăng thêm 31,3%, đạt 6.036 người trong niên học 2006 - 2007. Đây là con số thống kê mới nhất trong báo cáo thường niên ‘Open Doors 2007’ vừa được công bố”. Bài báo cũng nêu rõ: “Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 20 trong số các quốc gia trên toàn thế giới có số sinh viên du học tại Hoa Kỳ nhiều nhất”. Bên cạnh đó người ta cũng nhắc lại lời tân đại sứ Mỹ ở Hà Nội, Michael Michalak, nói ông hy vọng sau 20 năm nữa, người Mỹ có thể thấy “75% thành viên chính phủ Việt Nam tốt nghiệp tại Mỹ”!
Như vậy chẳng nguy hiểm lắm sao cho chế độ hiện hữu tại Việt Nam mà linh mục Huỳnh Công Minh đang phụng sự? Và lẽ nào không nguy cho vị thế hiện nay và tương lai của một số cán bộ cỡ như linh mục?
Linh mục chắc biết Phạm Xuân Ẩn chứ? Tay gián điệp Cộng sản nằm vùng ở Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, sau 1975 được phong tới cấp tướng Cộng sản. Thế mà mãi đến năm 1996, ông ta vẫn còn thèm cho đứa con trai mình (Phạm Xuân Hoàng Ân) đi học Mỹ (ước mơ lớn nhất của ông), dù cậu ấy đã được “cho đi học” 5 năm ở Nga (từ năm 1983) và đạt bằng cấp cao. Ẩn không ngần ngại nói: “Ít nhất thì tôi cũng muốn các con tôi được sang Mỹ để học tập” [1]. Còn Phạm Xuân Hoàng Ân (con trai của Ẩn) trong bài luận văn kèm theo đơn xin học Trường Đại học North Carolina, Hoa Kỳ, cũng viết: “Tôi ước mong có thể được sang Mỹ học tập… để tiếp thu những tinh hoa của xã hội Mỹ. Sau đó, khi trở về nước, tôi có thể nói với nhân dân tôi về văn hóa, lịch sử và con người, cũng như những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ của một siêu cường tiên tiến này”[2].
Cuối năm 1990, Phạm Xuân Hoàng Ân được nhận vào học Trường Đại học North Carolina cho đến năm 1993. Rồi năm 1999, Ân lại giành được học bổng Fulbright để đi Mỹ một lần nữa, vào học luật tại Trường Đại học Duke (cũng ở North Carolina, USA).
Phạm Xuân Ẩn mãn nguyện ra đi thanh thản vì giấc mơ ông ôm ấp từ bao chục năm qua đã thành hiện thực, nó vượt cao hơn cái mà người ta gọi thành tích gián điệp của ông trong hơn thập niên trước 1975: Con ông được học và tốt nghiệp từ nhà trường Mỹ.
Linh mục Huỳnh Công Minh lại lý luận rằng cụm từ “trò đánh giá thầy” là cụm từ “rất HÀM HỒ, dễ gây hiểu sai, hiểu lệch một cách vô cùng tai hại, nhất là nó được hiểu theo kiểu làm của Mỹ ‘trò chấm điểm thầy’. Khi trò chấm điểm thầy được, thì con cái cũng sẽ chấm điểm cha mẹ; và khi đã chấm điểm được, thì cũng tố cáo được, lên án được (ở Mỹ người ta dạy trẻ con gọi điện cho cảnh sát đến bắt cha mẹ, khi cha mẹ dạy con không đúng cách (dung roi vọt chẳng hạn)”. Rồi từ lý luận trên, linh mục Minh đi tới kết luận: “con cái tố cha mẹ thì còn gì gia đình nữa!”
Không biết cụm từ “trò đánh giá thầy’ có HÀM HỒ như linh mục Minh nhận xét không? Hay là linh mục “hiểu sai, hiểu lệch một cách tai hại” về một phương thức giáo dục của nước khác? Và sao linh mục không hiến kế để có một cụm từ khác không hàm hồ?
Ở Việt Nam, thiếu gì trường hợp những bà mẹ ông cha đánh con, trấn nước con, bóp cổ con cho đến chết. Thiếu gì những vụ chồng đánh đập vợ, nếu không gây thiệt mạng thì cũng gây thương tật tâm thần hay thể xác. Thiếu gì những bậc thầy cô thay vì làm nhà mô phạm lại đóng vai công an tra tấn học sinh mình, nhục mạ hay dùng vũ lực trừng phạt chúng như trừng trị một con thú! Những chuyện như vậy có xảy ra ở Việt Nam không hay chỉ có ở Mỹ? Tỉ lệ đối xử tồi tệ ấy ở Việt nam hiện nay ra sao?
Linh mục Minh nghĩ thế nào nếu có ai đó hỏi linh mục như đã hỏi TS Xã hội học Trịnh Hòa Bình trong một cuộc phỏng vấn mà báo Thời Sự trong nước đã ghi lại ngày 18/4/2007: "Hàng loạt vụ việc như thầy giáo bắt học trò quì đất bò quanh lớp, bắt học trò liếm ghế, giựt tóc học trò hay chuyển học trò cho công an xã hỏi cũng chỉ vì nghi ngờ học trò lấy chưa đầy 50 ngàn, thậm chí chuyện thầy giáo gạ tình... nối tiếp nhau xuất hiện trên báo chí. Nếu bàn về mức độ của vấn đề này, ông có thể nói gì?" Linh mục sẽ trả lời thế nào?
Ở Việt Nam chưa có chuyện trò đánh giá thầy hay con trẻ gọi điện báo cảnh sát, phải không?
Mời linh mục Minh đọc Dân Trí ngày 31/10/2007, xem nó nói gì trong bài báo Khi Thầy Giáo Thành ‘Thầy Kiện’? “Ông Hiệu trưởng cũng đưa bản nhận xét của sinh viên trong khoa gửi lên Ban giám hiệu. Trong đó nhiều sinh viên đã phải bức xúc kêu lên: Việc giảng dạy của giáo viên khoa T.A đặc biệt lạc hậu... Các thầy cô của khoa đều thiếu trách nhiệm, giờ giải lao ra chơi gần hết một tiết học, giờ học trong lớp không hiệu quả, giảng sai, không cập nhật thông tin, thiếu sáng tạo...
“Còn tại ĐH B, thầy T - trưởng khoa H.M năm 2005 bị sinh viên đồng loạt khiếu nại lên nhà trường về việc thầy ăn chặn tiền của sinh viên với nhân chứng vật chứng không thể chối cãi… “
Hơn nữa, những chuyện con cái tố cha mẹ, vợ chồng tố lẫn nhau lừng danh một thời ở Việt Nam đâu phải là hệ quả của “trò chấm điểm thầy”, “trẻ con gọi điện cảnh sát”. Chẳng phải chỉ có tố hay lên án mà còn đấu nữa! Đấu tố, xỉa xói, nhục mạ, kết án và hành hạ tới chết! Thậm chí người ta còn xúi cả những đứa con gái dựng chuyện tố cha mình hãm hiếp rồi đấu nạn nhân đến hộc máu mồm! Và vô số màn đấu tố dã man đại loại như vậy, đảo lộn luân thường đạo lý, kể không xiết! Những chuyện động trời ấy đâu phải ở Mỹ mà ở ngay trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa đấy! Những chuyện có thật trong lịch sử nước nhà như vậy có đáng hãnh diện gọi là “nét son của văn hóa truyền thống Việt Nam” như linh mục Minh rêu rao ở cuối Thư Ngỏ không?
Thư Ngỏ của linh mục Minh có nói lên được điều gì tích cực mới mẻ để giúp “giải phóng” nền giáo dục Việt Nam đang lâm vào bế tắc không hay chỉ có đả kích, gieo rắc hận thù và đố kỵ một cách vô trách nhiệm? E rằng ông Nguyễn Thiện Nhân đọc chưa xong thư ngỏ đã nghe thấy mùi thối mà quăng nó vào lửa hay vào sọt rác!
Khi phê phán và “hạ bệ’ nền giáo dục Mỹ với giọng hằn học rằng ““nhà trường của họ không dạy học sinh làm người, biết phân biệt thiện ác, phải trái, tốt xấu”, linh mục Minh có thật sự khách quan như Giao Ngọc Lê không khi ông này viết: “Nền giáo dục tại Việt Nam đang bị khủng hoảng. Lý thuyết giáo điều và lỗi thời chỉ cốt củng cố quyền lực của một Đảng Cộng sản suốt 62 năm qua đã tạo ra bao thảm họa khi chen chân với quốc tế. Sự thiếu tự do ngôn luận và nền thông tin một chiều càng làm tăng thêm nhiều dây trói cho cố gắng thúc đẩy suy luận và sáng kiến trong lúc khuyến khích thái độ vô trách nhiệm, tham nhũng, và vô đạo đức của lớp có quyền”[3].
Hay là linh mục muốn đóng vai trưởng ban “tuyên huấn” hoặc “văn hóa-tư tưởng” cố làm sống lại phong trào “bài Mỹ”? Không dễ gì lôi kéo giới trẻ Việt Nam ngày nay a dua vào bè như trước đây đâu!
Đề nghị linh mục thử chạy giấy đi du lịch Mỹ lại một lần nữa, sống ở Mỹ một thời gian dài hơn mà xem, nếu linh mục muốn bài Mỹ từ trong lòng nước Mỹ thì chắc chắn vừa dễ ăn to nói lớn vừa thuyết phục có hiệu quả hơn. Bởi vì như nhà báo Anh Gerard Baker, chuyên gia uy tín về kinh tế và chính trị trong làng báo quốc tế trong bài Nước Mĩ là thiên đường cho những kẻ chống Mĩ[4], đã viết: “Mĩ không chỉ nuôi dưỡng những kẻ bài Mĩ ồn ào và to mồm nhất mà còn cung cấp một chỗ ở an toàn cho những người đến Mĩ chỉ với một mục đích duy nhất là kết án nó. Khi đi qua bất kì khu học xá nào ở Mĩ ta cũng nghe thấy tiếng ồn ào của hàng trăm ngôn ngữ, thoả sức chửi rủa tất cả những gì nước Mĩ đang làm, từ fast food cho đến quĩ đầu tư hedge-fund”[5].
Suốt hơn 30 năm qua, người Công giáo Việt Nam đau buồn ray rứt về một bộ phận nhỏ giáo sĩ cam phận “quốc doanh”. Quốc doanh là gì nếu không phải là món hàng, là sản phẩm, là công cụ kinh doanh của Nhà nước tập quyền? Tồi hơn là “nô bộc”!
Chẳng lẽ linh mục Huỳnh Công Minh đến lúc này vẫn chưa nhận ra thực tế tai hại của chủ nghĩa bưng bít và bới xấu đối phương khiến linh mục tiếp tục hăng say “chống Mỹ cứu nước”? Trong khi đó, biết bao điều “ích quốc lợi dân”, biết bao điều oan ức cho dân, tiếng dân nói không thấu tai cửa quyền, sao linh mục không có một lời ngỏ?
Đó là chưa kể tới dân quyền, nhân quyền, quyền dân chủ và quyền tự do ngôn luận vẫn còn bị chà đạp, có nghe linh mục “ngỏ” với ai bao giờ trong tư cách đại biểu quốc hội tới hai khóa - khóa 6, khóa 7? Rồi trong tư cách đứng đầu một tờ báo mệnh danh “báo Người Công giáo” cũng như tư cách Tổng đại diện của ĐHY (như linh mục đã nêu, chứ không phải là Tổng Đại diện của Tổng Giáo phận), linh mục có lần nào thẳng thắn bênh vực người đồng đạo bị ức hiếp chưa? Hay chỉ làm công cụ xua đuổi các Đấng đại diện Hội Thánh (vụ đuổi Đức Khâm sứ Henri Lemaitre thời kỳ sau 30/4/1975) ra khỏi cơ sở của Giáo Hội cùng nhiều hành vi lộng hành khác (trong Nhóm tứ nhân bang) đối với Giáo Hội và Giáo quyền mà báo chí đã nêu?
Ôi! Giá ở đầu Thư Ngỏ linh mục đừng kê khai cái chức “Tổng Đại diện của Đức Hồng Y Tổng Giám mục” thì tốt cho linh mục biết mấy! Dân có đạo cũng đỡ mặc cảm với người ngoài đạo! Và có lẽ hàng giáo sĩ Việt Nam cũng khỏi phải rầu vì một con sâu!
[1] Xem Larry Berman: Điệp viên hoàn hảo. Bản dịch tiếng Việt do NXB Thông Tấn năm 2007, trang 427.
[2] Như trên, trang 422.
[3] Giao Ngọc Lê: “Khủng hoảng giáo dục tại Việt Nam: Hệ quả của độc đảng, giáo điều và thiếu tự do ngôn luận”. Talawas ngày 27/10/2007.
4 Do Nguyên Trường dịch. Talawas 13/12/2007. Kiểu viết “I” (Mĩ) thay vì “Y” (Mỹ) là của Nguyên Trường.
5 Fast food - Đồ ăn được nấu đúng tiêu chuẩn để khách hàng ăn nhanh và gọn. Hedge-fund là một loại công ty đầu tư giống như công ty cổ phần sử dụng những phương pháp đầu tư may rủi cao để đạt lợi nhuận cao.
Subscribe to:
Comments (Atom)